chương 1 giới thiệu cùng bạn đọc một số nội dung cơ bản sau đây: - Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thanh toán quốc tế; - Cơ sở pháp lý của hoạt động thanh toán quốc tế; - Các chứng từ thanh toán trong thương mại quốc tế; - Hoạt động tài trợ XNK và vai trò của tài trợ XNK. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIÊM VÀ VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ 1. Khái niệm Có nhiều khái niệm khác nhau về thanh toán quốc tế. “Thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước” (Đinh Xuân Trình, Giáo trình Thanh toán quốc tế, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, 2006).
“Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi frả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh 11 tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan” (Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Thanh toán quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, 2008). Theo chúng tôi, xét trong phạm vi thanh toán các giao dịch ngoại thương, thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các khoản thu, chi để hoàn thành các hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế, thông qua các trung gian thanh toán, đó là những ngân hàng thương mại được khách hàng - người trà tiền và người hưởng lợi ủy thác thực hiện hoạt động thanh toán”. Như vậy, cũng giống như mọi hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán quốc tế trong hoạt động ngoại thương thường có ba nhóm chủ thể tham gia, đó là: Người trả tiền, người hưởng lợi và các tổ chức trung gian cung cấp dịch vụ thanh toán - ngân hàng thương mại. + Người trả tiền: Là người mua hàng - người nhập khẩu.
Ngoài ra, người trả tiền có thể là người xuất khẩu khi họ phải thực hiện chi trả tiền bồi thường, hoặc các chi phí cho việc sử dụng các dịch vụ xuất khẩu thuê ngoài. Người trả tiền có nhiệm vụ trả đúng hạn số tiền phải trả, tôn trọng những thủ tục, quy định được thể hiện ữong họp đồng với các chủ thể có liên quan; chi trả phí dịch vụ thanh toán cho ngân hàng. Người trả tiền có quyền từ chối thanh toán nếu các chủ thể khác vi phạm những cam kết hay những quy định đã thoả thuận giữa các bêri. + Người hưởng lợi (còn gọi là người thụ hưởng): Là người bán hàng - người xuất khẩu.
Người xuất khẩu có trách nhiệm lập, hoàn tất các chứng từ thanh toán theo quy định của từng phương thức thanh toán, hoặc theo sự thỏa thuận giữa các bên có liên quan, chi trả phí dịch vụ thanh toán cho ngân hàng; đồng thời có quyền hưởng lợi số tiền ghi trên các chứng từ thanh toán khi thực hiện đúng, đầy đủ các trách nhiệm, nghĩa vụ của mình. + Trung gian thanh toán: Bao gồm các ngân hàng thương mại ở nước người mua và người bán, được người mua, người bán (người trả 12 tiền, người hưởng lợi) ủy nhiệm thực hiện dịch vụ thanh toán. Các ngân hàng này được hưởng phí cung cấp dịch vụ thanh toán và có các trách nhiệm cơ bản sau: - Hướng dẫn khách hàng làm các thủ tục thanh toán, giám sát khả năng chi trả của khách hàng, cung cấp đầy đủ và kịp thời các loại giấy tờ thanh toán cần thiết cho khách hàng theo quy định. - Khi nhận được các chứng từ thanh toán do khách hàng gửi tới, ngân hàng phải kiểm tra chứng từ và khả năng thanh toán của chủ tài khoản trước khi thực hiện thanh toán và có quyền từ chối thanh toán nếu tài khoản không đủ tiền.
Ngân hàng phải thanh toán kịp thời, chính xác và đảm bảo an toàn tài sản cho khách hàng. Nếu do sai sót dẫn đến thiệt hại cho khách hàng, ngân hàng phải bồi thường vật chất cho bên bị hại, và tuỳ theo mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý theo pháp luật. Đặc điểm Thanh toán quốc tế có một số đặc điểm cơ bản sau: - Khác với thanh toán nội địa, thanh toán quốc tế không chỉ chịu sự điều chỉnh của luật pháp quốc gia mà còn chịu sự điều chỉnh của luật pháp và các tập quán quốc tế như: Luật thống nhất về hối phiếu (Uniíồrm Law for Bill of Exchange - viết tắt là ULB), Quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ (Uniíồrm Customs and Practice for Documentary Credit - viết tắt là UCP), Quy tắc thống nhất về nhờ thu (Uniform Rules for Collection - viết tắt là URC), Quy tắc thống nhất về hoàn trả liên ngân hàng (The Uniform Rules for Bank - to - Bank Reimbursement Under Documentary Credit - viết tắt là URR), Điều kiện thương mại quốc tế (International Commercial Terms - viết tắt là Incoterms). Những văn bản pháp lí và tập quán quốc tế này góp phần tạo ra một sân chơi bình đẳng, công bằng cho các chủ thể tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế, ưánh những tranh chấp đáng tiếc xảy ra.
- Thanh toán quốc tế chịu sự ảnh hưởng của tỉ giá. Thực tế cho thấy đồng tiền được sử dụng trong thanh toán quốc tế thường là những loại 13 tiền tự do chuyển đổi và được đánh giá là tiền mạnh frong giai đoạn đó, nó có thể là tiền của một quốc gia (USD, JPY.), hoặc tiền quốc tế (EUR, SDR). Trong điều kiện phát triển kinh tế hiện nay, sức mua của các đồng tiền không ổn định. Để thực hiện tốt quá trình thanh toán quốc tế, đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, việc đàm phán lựa chọn đồng tiền thanh toán thích hợp; việc xác định, duy trì quy mô và cơ cấu ngoại hối dự trữ hợp lí là công việc mà các NHTM, các chủ thể tham gia hoạt động thanh toán quốc tế cần quan tâm giải quyết.
- Ngoại trừ các giao dịch xuất nhập khẩu hàng hóa được mua bán qua con đường tiểu ngạch, các giao dịch thanh toán quốc tế chủ yếu được thực hiện qua hệ thống ngân hàng thương mại. Vì vậy, để phục vụ và phát triển các giao dịch thanh toán quốc tế, các ngân hàng thương mại, ngoài việc thực hiện các hoạt động (giống như dịch vụ thanh toán trong nước): hiện đại hóa công nghệ thanh toán, hoàn thiện quy trình, đa dạng hóa dịch vụ thanh toán, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực., rất cần có một mạng lưới ngân hàng đại lí hoặc chi nhánh ở nước ngoài. Cụ thể là, để thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế, ngân hàng ở các nước liên quan phải thiết lập quan hệ ngân hàng đại lí trên cơ sở những thỏa ước chung về: Khóa mã telex, swift (nếu có); các điều khoản, điều kiện thanh toán; các mẫu chữ kí có liên quan. Khi thiết lập quan hệ đại lí, các ngân hàng phải duy trì thường xuyên hai loại tài khoản: Nostro và Vostro (còn gọi là Loro).
Đứng frên góc độ một quốc gia, tài khoản Nostro là tài khoản tiền gửi không kì hạn của một ngân hàng trong nước mở đại lí tại ngân hàng nước ngoài (ngân hàng trong nước là chủ tài khoản). Tài khoản Vostro là tài khoản tiền gửi không kì hạn của một ngân hàng nước ngoài mở đại lí tại một ngân hàng ở trong nước (ngân hàng nước ngoài là chủ tài khoản). Vi dụ: Đứng ở vị trí một NHTM Việt Nam, Vietinbank chẳng hạn, tài khoản Nostro là tài khoản tiền gửi không kì hạn của Vietinbank mờ đại lí tại một ngân hàng nước ngoài, Citibank NewYork chẳng hạn, có số dư bằng USD. Tài khoản Vostro là tài khoản tiền gửi không kì hạn của 14 Citibank NewYork mở đại lí tại Vietinbank, có số dư bằng VND.
Tài khoản Nostro và Vostro cũng có thể được duy trì bằng một loại ngoại tệ tự do chuyển đổi, được sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế. Vai trò của thanh toán quốc tế 1. Đối với ngân hàng thương mại Ngày nay, hoạt động thanh toán quốc tế là một dịch vụ trở nên quan trọng đối với các NHTM, nó đem lại nguồn thu đáng kể không những về số lượng tuyệt đổi mà cả tỳ trọng. Thông qua cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế cho khách hàng, ngân hàng thu một khoản phí để bù đắp các chi phí của ngân hàng và tạo ra lợi nhuận kinh doanh cần thiết.
Tùy theo phương thức thanh toán, môi trường cạnh tranh và mức độ tín nhiệm của khách hàng, biểu phí và mức phí dịch vụ áp dụng có thể là khác nhau cho các khách hàng khác nhau. Phí dịch vụ thanh toán quốc tế cấu thành nên doanh thu và lợi nhuận của ngân hàng thương mại. Thanh toán quốc tế còn là một mắt xích quan trọng trong việc chắp nối thúc đẩy phát triển các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng như kinh doanh ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng trong hoạt động ngoại thương, tăng cường nguồn vốn huy động, đặc biệt là vốn bằng ngoại tệ. Thanh toán quốc tế không chỉ làm tăng thu nhập của ngân hàng, mở rộng vốn, đa dạng các dịch vụ mà còn nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính quốc tế.
Do vậy, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động TTQT có vai trò quan frọng đối với hoạt động ngân hàng, nó không chỉ là một dịch vụ thanh toán thuần túy mà còn là khâu không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh doanh, bổ sung và hỗ trợ các hoạt động kỉnh doanh khác của ngân hàng. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu TTQT là khâu cuối cùng để hoàn thành các quan hệ ngoại thương. Hoạt động xuất - nhập khẩu chỉ có thể phát triển được một cách bình thường khi khâu thanh toán được thực hiện và giải quyết. TTQT không những có tác dụng duy trì các mối quan hệ ngoại thương mà còn có tác dụng thúc đẩy ngoại thương phát triển mạnh mẽ hơn.
15 Trong kinh doanh XNK nếu hoạt động thanh toán nhanh chóng, an toàn, giúp các doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh, góp phần giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp XNK.