CHƯƠNG 1 1. Anh (chị) hãy trình bày về đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của Tâm lí học phát triển. Anh (chị) hãy trình bày về quan niệm và nghiên cứu về trẻ em trước khi Tam lí học phát triển ra đời. Anh (chị) hãy phác hoạ những nét cơ bản trong lịch sử hlnh thành và phát triển của Tâm lí học phát triển.
19 Chương 2 NHỬNG VẤN ĐỀ C ơ BAN VỀ s ự PHÁT TRIEN TÂM LÍ NGƯỜI Các chủ đề chính của chương: Con người là gì? Sự phát triển của con người diễn ra như thế nào? là những vấn đề trung tâm của Tâm lí học phát triển. Mục tiêu của chương này là trình bày một cách khái quát những vấn đề cốt lõi của Tâm lí học phát triển. Cụ thể là cấc vấn đề sau: Các quan niệm về con người và phát triển tâm lí người. Có ba quan niệm phổ biến trong Tâm lí học phát triển: Quan niệm tiên hoá - sinh học; CỊIUIÌÌ niệm cơ học và quan niệm hoạt động.
Quan niệm con người là một thực thể tự sinh ra chính bản thân mình bằng hoạt động và tương tác xã hội được đánh giá là quan niệm hiện đại và phổ biến trong Tâm lí học phát triển. Quan niệm này đã xác định đúng vai trò quyết định của hoạt động và tương tác xã hội của cá nhân đối với sự hình thành và phát triển tâm lí người, cũng như vai trò của các yếu tô sinh học và môi trường xã hội trong sự phát triển tâm lí người. > Cơ chế hình thành và phát triển tâm lí n gư ờ i. しuận điểm trung tâm là con người sinh ra chính mình bằng cách tiếp nhận và chuyển các kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm cấ nhân, được thực hiện thông qua sự tương tác giữa nó với đối tượng, mà trước hết là tương tác xã hội với những người và đồ vật xung quanh; là quá trình chuyển những hành động tương tác từ bên ngoai vào bên trong của cá nhân (cơ chế chuyên vào trong) > Các quy luật phát triển tâm lí người.
Sự phát triển tâm lí người diễn ra theo nhiều quy luật: Sự phát triển của cá nhân diẻn ra theo một trình tự nhất định, không nhảy cóc, không đốt cháy giai đoạn; sự phát triển diễn ra với tốc dộ và mức độ không đều qua các giai đoạn phát triển từ sơ sinh đến trưởng thành; có sự tiệm tiến và nhảy vọt trong quá trình phát triển; sự phát triển tâm lí gắn bó chặt chẽ với sự trưởng thành cơ thể và sự tương tác giữa cá nhân với môi trường văn hoá - xã hội; sự phát triển có tính mềm dco và có khả năng bù trừ. > Các giai đoạn phát triển tâm lí người. Sự phát triển tâm lí cá nhân diễn ra qua các giai đoạn. Cách phân chia được ihừa nhận rộng rãi hơn cả là chia quá trình phát triển tâm lí cá nhân thành 9 giai đoạn: 1 ) Giai đoạn thai nhi; 2) Giai đoạn hài nhi (0 - 1 tuổi); 3) Giai đoạn ấu nhi ( 1 - 3 tuổi); 4 ) Giai đoạn mẫu giáo ( 3 - 6 tuổi); 5) Giai đoạn nhi đồng (6 - 1 1 tuổi); 6) Giai đoạn thiếu niên ( 1 1 - 1 5 tuổi); 7) Giai đoạn thanh niên (15 - 25 tuổi); 8) Giai đoạii trưởng thành (25 - 60 tuổi); 9) Giai đoạn người già (sau 60 tuổi).
CÁC QUAN NIỆM VỂ CON NGƯỜI VÀ PHÁT TRIỂN tâm lí người 1 .Các quan niệm về con người 7. Quan niệm sinh học - tiến hóa về con người Các nlià Tâm lí học xuất phパt từ quan niệm sinh học - tiến hóa thường coi con người là một sinh vật hữu cơ. Tlieo họ, các lực lượng bản chất của con người như nhu cầu, năng lượng sống, hành vi ứng xử trong quan hệ với rrìôi trường đều là những lực lượng tự nhiên của con người, chúng mang tính người với tư cách là các đặc trưng của loài người trong hệ thống sinh giới. Các đặc trưng này được hình thành và bien a o i do sự tương tác giưa cá thể VƠI các điều kiện song xung quanh.
Do quan niệm con người là một sinh vật hữu cơ nên những vấn đề cơ bản về sự phát triển người đều được giải thích theo các quy luật sinh học. Thực chất của sự phát triển là quá trình thay đoi của cá thể để thích nghi VƠI sự thay đổi của môi trường sống. Động lực thúc đẩy con người hành động và phát triển có nguồn gốc từ nhu cầu bên trong cơ thể nhằm khắc phục sợ hẫng hụt, mất cân bằnị; giữa cơ thể với sự thay đổi của môi trường. Sự phát triển gắn liền với sự trưởng thành và thành thục của cơ thể, còn sự tác động của các yếu tố từ bên ngoài chỉ đóng vai trò điều kiện khách quan.
Các nhà tâm lí học theo quan điểm sinh học đề cao vai trò của tuổi thơ đối với các giai đoạn phát triển về sau. Theo họ, những năm đầu có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của cả cuộc đời cá nhân sau này. Quan diêm sinh học về con nííirơi đã chí ra được sức mạnh bên trong của con người và đã vạch ra cơ chế của sự pnat trien là sự tương tác tích cực giưa ca thể với môi trường sống để tạo ra sự cân bằng của cá thể đó. Tuy nhiên, do việc giải thích con ngươi và sự phát tnên ngươi nặng về tự nhiên, nên chưa đánh gia đúng vai trò của hoạt động cá nhân trong quá trình tương tác với moi trường sống.
Vì vậy, suy cho cùng con người và sự phát triển của nó vẫn là thụ động với môi trường sống và VƠI chính bản thân mình. Quan niẹm máy móc, cơ học vé con người Theo quan niệm cơ học, con ngươi được coi là hê thống máy móc hoàn bị, có khả năng ứng xử linh hoạt đối VƠI kích thích của môi trường. Con người là "bản sao" của một hệ thống khác - hệ thống xã hội, từ bên ngoài, là sản phẩm c ủ a c á c yếu tố nhập từ bẽn ngoài. Trong đó các kích thích của môi trường được 21 coi là áp lực tác động vào cá thể, gây ra các phản ứng tương ứng.
Vì vậy, có thể kiểm soát và chủ động hình thành các phản ứng cho mọi đứa trẻ, nếu kiểm soát và điều khiển được các yếu tố bên ngoài, bất luận những yếu tố bên trong của nó như thế nào. Điển hình của quan niệm này là các nhà Tâm lí học hành vi Các nhà tâm lí học theo quan niệm máy móc coi sự phát triển là sự /lình thành cúc hành vi của cá nhân, là kết quả sự học của trẻ trong cuộc sống hàng ngày. Đặc trưng của sự phát triển là quá trình tăng dần số lượng và tính chất phức tạp của các hành vi học được. Hệ quả là đến tuổi trưởng thành, cá thể (người và động vật) có số lượng phản ứng nhiều hơn, phức tạp hơn so với khi mới sinh.
Sự khác nhau giữa cá nhân này với cá nhân khác được xác định bởi hệ thống hành vi học được thông qua việc đáp ứng các kích thích của môi trường. Trong quá trình hình thành các hành vi đó, cá thể thường bị động, đối phó với các kích thích của môi trường và phụ thuộc vào nó. Các nhà tâm lí học theo quan điểm cơ học thường ví trẻ em như ’’tờ giấy trắng", như ’’cục bột’’, là nguyên liệu để bố mẹ và xã hội nhào nặn theo ý thích của mình. Vì vậy, mục tiêu chủ yếu mà các nhà tâm lí học này theo đuổi là các mô hình dạy học, nhằm tác động một cách tối ưu đến hành vi của trẻ em, còn các yếu tố khác như động lực của sự phát triển, các quy luật, các giai đoạn phát triển và tính chủ thể của trẻ thường ít được quan tâm.
Quan aiem hoạt động về con người Các nhà tâm lí học hoạt động cho rằng, về phương diện tự nhiên, con người là một thực thể sinh học, chịu sự chi phối của các quy luật sinh học và là sản phẩm lịch sử tiến hoá lâu dài của sinh giới. Tuy nhiên, do sự tiến bộ của khoa học và của xã hội, ngày nay con người đang từng bước thay thế tự nhiên sản xuất ra thực the sinh học của chính mình theo đúng nghĩa đen của nó. Điều này dẫn đến thực tế là con người sinh vật cũng như những quy luật tự nhiên chi phối con người như trước đây, không còn hoàn toàn do tự nhiên, mà dần dần do chính con người tạo ra và kiểm soát. Mặt khác, các yếu tố văn hoá - xã hội không phải là cái gì đó hoàn toàn khách quan, có trưóc và đối lập với con người, áp đặt lên con người, mà là cúc sản vật do con người sáng tạo ra, đó chứứì các quan hệ giữa con người với con người đang sống và hoạt động.
Xã hội và sự tồn tại có tính lịch sử của xã hội là do chuih con người tạo ra. 22 Như vậy, xét cả về phương diên sinh học và phương diện xã hội đều cho thấy con người không phải là một thực thể tự nhiên theo nghĩa thuần khiết của nó, cũng không phải là sản phẩm thụ động của xã hội. Vậy con người là gì? Con người ìà một thực th ể tự sinh rư chính bản thản mình bằng lìoụt độnẹ vù tươỉĩg túc x ã hội. Từ quan niệm này có thể rút ra một số điểm sau: - Thứ nhất: Con người, với tư cách là phạm trù người không phải là sản phẩm trực tiếp của sự tiến hoá sinh giới, cũng không phải là sản phẩm thụ động của tác động xã hội, mà lù sản phẩm và lả chủ the tích cực của chính hoạt động của nó, Hoạt động và tương tác của cá nhân như thế nào thì họ là như thế ấy.
Do đó, đánh giá và phát triển cá nhân phai căn cứ vào các biểu hiện hoạt động của cá nhân đó - Thứ hai: Bản chất cá nhân như thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện để họ hoạt động, ở đây "Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấyMl. Bản thân xã hội sản xuất ra con người với tính cách là con người như th ế nào thì con người cũng sản xuất ra xa hội như thế ấy. Quan niệm con người là một thực thể sinh ra chính bản thân mình bằng hoạt động và tưcmg tác xã hội mang lại ý nghĩa phương pháp luận cơ bản trong Tâm lí học phát triển.