Chương I GIỚI THIỆU N I DUNG VỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT VÀ TÁC NGHIỆP NGÀNH M I. THỰC CHẤT CỦ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT VÀ TÁC NGHIỆP Nền kinh tế - văn hóa – xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu đối với sản phẩm may của con ngƣời ngày càng đa dạng, gia tăng cả số lƣợng lẫn chủng loại, mẫu mã…, đồng thời yêu cầu về chất lƣợng ngày càng cao dần. Do đó, ngành may luôn có nhiều cơ hội để phát triển sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu mong muốn của khách hàng trong và ngoài nƣớc Doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp may nói riêng là tế bào của nền kinh tế, cần hoàn thiện các chức năng và nội dung quản trị doanh nghiệp dệt may Việt nam nhằm hoàn thiện việc thực hiện các chức năng quản trị trong các công việc. Có nhƣ vậy, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh mới đạt nhƣ mong muốn.
Kiến thức về quản trị sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hiệu quả trong quản lý sản xuất sẽ góp phần làm giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, tăng vị thế cạnh tranh của ngành dệt may Việt nam. Nhà xƣởng, máy móc thiết bị, nguyên phụ liệu, công nhân là những yếu tố cần thiết trong quá trình sản xuất – kinh doanh, các yếu tố này đƣợc sử dụng có hiệu quả hay không phụ thuộc hoàn toàn vào vai trò của nhà quản trị.Khái niệm về quản trị sản xuất và tác nghiệp Quản trị sản xuất bao gồm các hoạt động tổ chức phối hợp sử dụng các yếu tố đầu vào nhằm chuyển hóa thành kết quả ở đầu ra là sản phẩm và dịch vụ với chi phí sản xuất thấp nhất và hiệu quả cao nhất. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp thì quá trình sản xuất có khả năng tạo ra hiệu quả lớn nhất, vì quá trình sản xuất trực tiếp sử dụng các yếu tố sản xuất, do đó quản trị sản xuất có tầm quan trọng đặc biệt đối với doanh nghiệp. Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của thị trƣờng nhằm thu về cho mình một khoản lợi nhuận nhất định.
Mỗi doanh nghiệp là một hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ với môi trƣờng bên ngoài và có cấu trúc bên trong bao gồm nhiều phân hệ khác nhau. Để thực hiện mục tiêu của mình, mỗi doanh nghiệp phải tổ chức tốt các bộ phận cấu thành nhằm thực hiện những chức năng cơ bản. sản xuất là một trong những phân hệ chính có ý nghĩa quyết định đến việc tạo ra sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho xã hội. Quản lý hệ thống sản xuất sản phẩm, dịch vụ là chức năng, nhiệm vụ cơ bản của từng doanh nghiệp.
Hình thành, phát triển và tổ chức điều hành tốt hoạt động Chƣơng I: Giới thiệu nội dung về quản trị sản xuất và tác nghiệp ngành may 2 sản xuất là cơ sở và yêu cầu thiết yếu để mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trên thị trƣờng. Quản trị sản xuất chính là quá trình thiết kế, hoạch định, tổ chức điều hành và kiểm tra theo dõi hệ thống sản xuất nhằm thực hiện những mục tiêu sản xuất đã đề ra. Nhiệm vụ của quản trị sản xuất và dịch vụ thiết kế là thiết kế và tổ chức hệ thống sản xuất nhằm biến đổi đầu vào thành các yếu tố đầu ra sau mỗi quá trình biến đổi, nhƣng với một lƣợng lớn hơn số lƣợng đầu tƣ ban đầu. giá trị gia tăng là yếu tố quan trọng nhất, là động cơ hoạt động của các doanh nghiệp và mọi tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Giá trị gia tăng là nguồn gốc tăng của cải và mức sống của toàn xã hội; tạo ra nguồn thu nhập cho tất cả các đối tƣợng có tham gia đóng góp vào hoạt động của doanh nghiệp nhƣ những ngƣời lao động, chủ sở hữu, cán bộ quản lý và là nguồn tái đầu tƣ sản xuất mở rộng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp.Vai trò của quản trị sản xuất ngành may Hệ thống sản xuất lấy nguyên liệu đầu vào, nhân sự, máy móc, nhà xƣởng, công nghệ, tiền, thông tin và các tài nguyên khác và chuyển chúng thành đầu ra – sản phẩm (vải mộc, vải thành phẩm, quần áo may sẵn…) .Ngƣời quản trị hệ thống sản xuất, họ tham gia chủ yếu vào quá trình chuyển đổi này, nhiệm vụ làm cho quá trình chuyển đổi này có hiệu quả. Trong doanh nghiệp sản xuất, khu vực sản xuất sử dụng hầu hết nguồn lực trong doanh nghiệp (vốn, nguyên phụ liệu, thiết bị, quản lý, công nhân, nhà xƣởng,…) Điều này càng nhấn mạnh vai trò quan trọng của quản trị sản xuất trong các doanh nghiệp dệt may. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là sản phẩm phụ thuộc vào khách hàng, đây lại là vai trò của bộ phận tiếp thị, kinh doanh, do vậy, quản lý sản xuất nên kết hợp với các chức năng khác nhƣ tiếp thị, tài chính qua đó đạt mục tiêu của doanh nghiệp. Đối với ngƣời quản lý sản xuất, qui trình rất quan trọng (vì các công việc kỹ thuật có thể thực hiện tốt khi đã thiết lập đƣợc qui trình), qua đó giảm những tình huống khẩn cấp.
Tuy nhiên, trong sản xuất ngành may có nhiều nhân viên, tình huống khẩn cấp hay xảy ra, vai trò của ngƣời quản trị càng trở nên quan trọng. Mục tiêu của quản trị sản xuất Các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời. Lợi nhuận tối đa là mục tiêu chung nhất, mục tiêu cuối cùng của bất kỳ doanh nghiệp nào khi đầu tƣ tiền của và sức lực vào các hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng. Quản trị sản xuất đồng thời với tƣ cách là tổ chức quản lý sử dụng các yếu tố đầu vào và cung cấp sản phẩm đầu ra phục vụ nhu cầu của thị trƣờng.
Vì vậy, mục tiêu tổng quát là đặt ra là bảo đảm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách Chƣơng I: Giới thiệu nội dung về quản trị sản xuất và tác nghiệp ngành may 3 hàng trên cơ sở sử dụng hiệu quả nhất các yếu tố sản xuất. Nhằm thực hiện mục tiêu này, quản trị sản xuất có các mục tiêu cụ thể sau: - Bảo đảm chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ theo đúng yêu cầu của khách hàng. - Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất để tạo ra một đơn vị đầu ra. - Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ.
- Xây dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp có độ linh hoạt cao Các mục tiêu cụ thể này gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trƣờng 4. Vai trò và mối quan hệ của quản trị sản xuất tác nghiệp với các chức năng quản trị chính khác Doanh nghiệp là một hệ thống thống nhất bao gồm ba phân hệ cơ bản là quản trị tài chính, quản trị sản xuất và quản trị marketing. Trong các hoạt động trên, sản xuất đƣợc coi là khâu quan trọng quyết định tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ và giá trị gia tăng. Sự phát triển sản xuất và dịch vụ là cơ sở làm tăng giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, tăng trƣởng kinh tế cho nền kinh tế quốc dân tạo ra cơ sở vật chất thúc đẩy xã hội phát triển.
Quá trình sản xuất đƣợc quản lý tốt góp phần tiết kiệm đƣợc các nguồn lực cần thiết trong sản xuất, giảm giá thành, tăng năng suất và hiệu quả của doanh nghiệp nói chung. Hoàn thiện quản trị sản xuất tạo tiềm năng to lớn cho nâng cao năng suất, chất lƣợng và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Quản trị sản xuất có mối quan hệ ràng buộc với các chức năng chính nhƣ quản trị tài chính, quản trị marketing và với chức năng hổ trợ khác trong doanh nghiệp. Mối quan hệ này vừa thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Sự thống nhất, phối hợp cùng phát triển dựa trên cơ sở chung là thực hiện mục tiêu tổng quát của doanh nghiệp. Marketing cung cấp thông tin về thị trƣờng cho hoạch định sản xuất và tác nghiệp, tạo điều kiện đáp ứng tốt nhất nhu cầu trên thị trƣờng với chi phí thấp nhất. Ngƣợc lại, sản xuất là cơ sở duy nhất tạo ra hàng hóa dịch vụ cung cấp cho chức năng marketing. Sự phối hợp giữa quản trị sản xuất và marketing sẽ tạo ra hiệu quả cao trong quá trình hoạt động, giảm lãng phí về nguồn lực và thời gian.
Chức năng tài chính đầu tƣ đảm bảo đầy đủ, kịp thời tài chính cần thiết cho hoạt động sản xuất và tác nghiệp, phân tích, đánh giá phƣơng án đầu tƣ mua sắm máy, công nghệ mới, cung cấp các số liệu về chi phí cho hoạt động tác nghiệp. Kết quả của quản trị sản xuất là tạo ra và làm tăng nguồn đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp đặt ra. Tuy nhiên, giữa các phân hệ trên có những mâu thuẫn với nhau. Chẳng hạn, chức năng sản xuất và marketing có những mục tiêu mâu thuẫn với nhau về thời Chƣơng I: Giới thiệu nội dung về quản trị sản xuất và tác nghiệp ngành may 4 gian, về chất lƣợng và giá cả.
Trong khi bộ phận marketing đòi hỏi sản phẩm chất lƣợng cao, giá thành hạ và thời gian giao hàng nhanh thì quá trình sản xuất lại có những giới hạn về công nghệ, chu kỳ sản xuất, khả năng tiết kiệm chi phí nhất định. Cũng do những giới hạn trên mà không phải sản xuất lúc nào cũng đảm bảo thực hiện đúng những chỉ tiêu tài chính đặt ra và ngƣợc lại, nhiều khi những nhu cầu về đầu tƣ đổi mới công nghệ hoặc tổ chức thiết kế, sắp xếp lại sản xuất không đƣợc bộ phận tài chính cung cấp kịp thời. Những mâu thuẫn đôi khi là khách quan, song cũng có khi do yếu tố chủ quan gây ra. Vì vậy, nhiệm vụ cơ bản là phải tạo ra sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động của các chức năng trên nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp đề ra.
NHỮNG N I DUNG CHỦ ẾU CỦ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT 1. Dự báo nhu cầu sản xuất sản phẩm Đây là nội dung quan trọng đầu tiên. Tìm hiểu, nghiên cứu tình hình thị trƣờng dự báo nhu cầu sản phẩm để trả lời câu hỏi cần sản xuất sản phẩm gì? Bao nhiêu? Vào thời gian nào?