CHƯƠNG 1. DOANH NGHIỆP VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY DOANH NGHIỆP Mã chương: MH 15 – 01 Giới thiệu: -Chương này giới thiệu cho người học nhận biết được bộ máy tổ chức của doanh nghiệp. -Người học nhận biết được chức năng quyền hạn, vai trò của doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức. Mục tiêu: -Trình bày được khái niệm doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp.
-Mô tả được các hình thức hoạt động kinh doanh. -Liệt kê được các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức doanh nghiệp. -Mô tả được các hệ thống tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp. -Nhận biết được nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của bộ máy quản trị doanh nghiệp.
-Xác định được đặc điểm của một hệ thống kinh doanh. -Giải thích được vai trò và bản chất của kinh doanh. -Giải thích được nội dung các hình thức tổ chức doanh nghiệp theo qui định của luật pháp. -Vận dụng nghiên cứu cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị trong doanh nghiệp để thực hiện công tác kế toán được chính 1.
Bản chất hoạt động kinh doanh 1.1 Vai trò của kinh doanh Thực hiện một số hay tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.2 Bản chất của hệ thống kinh doanh Doanh nghiệp tiếp nhận các nhập lượng và hoạt động trong những điều kiện đặc thù tùy theo loại hình kinh doanh. Tuy nhiên có điểm chung là các yếu tố nhập lượng chỉ có giới hạn hay được gọi là khan hiếm đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. -Doanh nghiệp sử dụng các nhập lượng theo cách thức hiệu quả nhất. -Doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu và xã hội.
Bản chất của hệ thống kinh doanh được biểu hiện qua sơ đồ 1.Hệ thống kinh doanh 1.3 Sự cần thiết của hoạt động kinh doanh - Là hoạt động của các tổ chức, cá nhân. -Thỏa mãn nhu cầu con người thông qua việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. -Theo đuổi mục đích tìm kiếm lợi nhuận. -Hoạt động phù hợp và nằm trong khuôn khổ của pháp luật.4 Các hình thức hoạt động kinh doanh Hoạt động kinh doanh có phạm vi rất rộng lớn.
Về cơ bản nó bao gồm ba lĩnh vực: sản xuất, phân phối và tiêu thụ.5 Các loại tổ chức kinh doanh Co.Ltd = Company limited: Công ty trách nhiệm hữu hạn. Cor = Corporation: Tập đoàn. INC = Incorporated: Liên doanh. JSC = Join stock company: Công ty cổ phần.6 Những đặc điểm của một hệ thống kinh doanh * Sự phức tạp và tính đa dạng: Hệ thống kinh doanh hiện đại là một cơ cấu rất phức tạp gồm có nhiều khu vực.
Mỗi khu vực do nhiều ngành tạo nên. Mỗi ngành lại được tạo thành từ nhiều tổ chức kinh doanh mà các tổ chức kinh doanh này thay đổi trong những giới hạn hình thức sở hữu, qui mô kinh doanh, cơ cấu vốn, phong cách quản trị và phạm vi hoạt động. Chẳng hạn: Khu vực sản xuất được tạo nên bằng các nhà máy lắp ráp ôtô, chế tạo đồ điện gia dụng (ấm đun nước, nồi cơm điện, tủ lạnh,.) và các sản phẩm điện tử (máy ghi âm, cassetle, đầu máy và ti vi, máy tính, máy vi tính,. Khu vực dịch vụ bao gồm các loại dịch vụ như vận tải, ngân hàng, các dịch vụ chuyên nghiệp.
Ngành công ty vận tải được tạo thành bởi các ngành: Đường sắt, vận tải biển, vận tải ô tô, hàng không. Ngành công nghiệp dịch vụ bao gồm các đại lý vận chuyển, khách sạn, nhà hàng, các khu vườn quốc gia. Ngành dịch vụ chuyên nghiệp bao gồm các luật sư, kiến trúc sư, bác sĩ, chuyên viên kế toán, nhà kinh doanh bất động sản. Trong mỗi ngành công nghiệp này, một số công ty chỉ hoạt động có tính chất cục bộ địa phương.
Trong khi đó nhiều công ty khác có văn phòng tại nhiều quốc gia. *Sự phụ thuộc lẫn nhau: Các tổ chức kinh doanh hợp tác với nhau trong hoạt động kinh doanh. Một công ty mua nguyên liệu thô hay các chi tiết rơi từ nhiều công ty khác, sau đó bán các sản phẩm hoàn thành cho các nhà bán buôn, bán lẻ và những người này đem bán chúng cho những người sử dụng cuối cùng. Trong tiến trình đó, tất cả các tổ chức kinh doanh này đều phụ thuộc vào sự cung ứng dịch vụ của các công ty vận tải, các ngân hàng và nhiều công ty khác.
Vì vậy sự phụ thuộc lẫn nhau là một hệ thống kinh doanh riêng của hệ thống kinh doanh hiện đại. * Sự thay đổi và đổi mới: Để đảm bảo thành công, các tổ chức kinh doanh phải đáp ứng kịp thời những thay đổi thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng. Hệ quả tất yếu của các tiến bộ công nghệ là nhiều sản phẩm nhanh chóng trở nên lỗi thời và bị thay thế. Bởi vậy sự thay đổi và đổi mới là những đặc trưng quan trọng trong hệ thống kinh doanh hiện đại.
*Các yếu tố sản xuất: Hệ thống tổ chức kinh doanh cần đến nhiều yếu tố nhập lượng khác nhau để tạo ra các xuất lượng cho xã hội. Các nhập lượng này được gọi là các yếu tố sản xuất, các nhập lượng căn bản gồm có lao động, tiền vốn, nguyên vật liệu, đội ngũ các nhà kinh doanh. Lao động: Bao gồm tất cả những người làm việc trong doanh nghiệp (còn được gọi là nguồn nhân lực) từ giám đốc đến quản đốc, nhân công đến nhân viên văn phòng, công nhân trong dây chuyền lắp ráp, người bán hàng,. Tiền vốn: Là tất cả tiền của cho hoạt động tài chính của một doanh nghiệp.
Những tiền của này có thể là vốn đầu tư của chính chủ doanh nghiệp, các cổ đông, của các thành viên, là tiền vay ngân hàng hay lợi nhuận kinh doanh được giữ lại. Chúng được sử 14 dụng để mua nguyên liệu, trả lương công nhân, lắp đặt máy móc, thiết bị mới hay xây dựng nhà xưởng, mở rộng nhà máy. Nguyên liệu: Có thể thuộc dạng tự nhiên như đất đai, nước hay khoáng chất để tuyển chọn. Trong công nghiệp nguyên liệu bao gồm nguyên liệu thô, linh kiện rời hay bán thành phẩm, sử dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất.
Đội ngũ các nhà kinh doanh: Là những người chấp nhận rủi ro tham gia vào hoạt động kinh doanh. Nhà kinh doanh có thể tự quản lý doanh nghiệp của họ hoặc đối với các tổ chức kinh doanh lớn giới chủ có thể thuê mướn một đội ngũ các nhà quản trị chuyên nghiệp thay mặt họ điều hành doanh nghiệp. Nhà kinh doanh là những người tạo lập doanh nghiệp, làm chủ sở hữu và quản lý doanh nghiệp. Đó là những người có sáng tạo, linh hoạt, dám chấp nhận những mạo hiểm rủi ro trong kinh doanh, chính họ là những người tạo nên sức sống của doanh nghiệp, tạo nên sự sôi động của cuộc sống cạnh tranh trên thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò kinh doanh biểu hiện trước hết trong việc chuyển dịch các yếu tố kinh doanh: Đất đai, lao động, vốn, kỹ thuật, thông tin. Nhà kinh doanh phải là những người có khả năng hoạt động theo nhiều chức năng khác nhau. Khi bước vào lĩnh vực kinh doanh họ có quyết tâm để theo đuổi những mục tiêu đã xác định: Tìm kiếm lợi nhuận, được tự chủ trong hành động, được thỏa mãn trong cuộc sống v. Những nhà doanh nghiệp thành công chỉ chấp nhận những rủi ro được tính toán của việc thu lợi nhuận hoặc lỗ lã trong việc thực hiện những hoạt động kinh doanh trong một thị trường mà họ đã phát hiện ra một ý niệm về những nhu cầu.
Doanh nghiệp và quản trị doanh nghiệp 2.1 Khái niệm doanh nghiệp Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. • Phân biệt Mục đích và Mục tiêu: Mục đích của DN Mục tiêu của DN - Mục đích kinh tế: Thu lợi nhuận -Mục tiêu là biểu hiện của mục đích của - Mục đích xã hội: cung cấp HH DV DN. Là mốc cụ thể phát triển từng bước - Mục đích thỏa mãn các nhu cầu -Một mục tiêu là một câu hỏi cần có lời giải đáp trong một khoảng thời gian nhất định -Yêu cầu đối với mục tiêu: Mục tiêu đạt được cần thỏa mãn cả về số lượng và chất lượng đồng thời với việc xác định được các phương tiện thực hiện. ục tiêu của doanh nghiệp phải luôn bám sát từng giai đoạn phát triển của nó.2 Khái niệm quản trị doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp là một quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ doanh nghiệp lên tập thể những người lao động trong doanh nghiệp nhằm khai thác một cách tốt nhất những tiềm năng và cơ hội để tiến hành hoạt động sản xuất kinh 15 doanh nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng luật định và thông lệ xã hội.3 Các hình thức tổ chức doanh nhiệp theo qui định của luật pháp 2.1 Doanh nghiệp tư nhân Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp (điều 99 luật doanh nghiệp ngày 12.1999) - Doanh nghiệp tư nhân có các quyền và nghĩa vụ như sau: •Tự do kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật.
•Quyền bình đẳng trước pháp luật như các doanh nghiệp khác. •Tự tổ chức và quản lý doanh nghiệp. •Quyền tạm ngưng hoạt động của doanh nghiệp nhưng phải báo cáo bằng văn bản về thời hạn ngưng cho cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế chậm nhất là 15 ngày trước khi doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động. Mặt khác doanh nghiệp tư nhân cũng có các nghĩa vụ như sau: •Thực hiện những hành vi pháp lý của doanh nghiệp trong giao dịch thông qua các hợp đồng kinh tế.
•Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ cho nhà nước theo qui định của pháp luật và các nội dung khác của điều 8 luật doanh nghiệp ngày 12.2 Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công ty TNHH (Trách nghiệm hữu hạn) là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Trên phương diện pháp luật công ty là pháp nhân, chủ sở hữu công ty là thể nhân với các nghĩa vụ và quyền tương ứng với quyền sở hữu công ty.