Chương 1: Cơ sở chung về nghiên cứu khoa học và nghiên cứu khoa học giáo dục Chương 2: Phƣơng pháp nghiên cứu khoa học và khoa học giáo dục Chương 3: Các giai đoạn tiến hành đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục Chương 4: Hình thức và cấu trúc của luận văn khoa học. Với cấu trúc và nội dung này, giáo trình sẽ là tài liệu giảng dạy và tài liệu học tập chính cho giảng viên và sinh viên Trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh. Chúng tôi xin cảm ơn các thầy cô trong Viện Sƣ phạm Kỹ thuật đã giúp đỡ đóng góp ý kiến; xin chân thành cám ơn ông Vũ Trọng Luật, Trƣởng Thƣ viện Trƣờng Đại học Sƣ phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí 3 Minh và Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để giáo trình này đƣợc tái bản.
Mặc dù là lần chỉnh sửa thứ hai với rất nhiều cố gắng, nhƣng giáo trình vẫn có thể còn sai lỗi. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với những ý kiến đóng góp từ phía đồng nghiệp và các em sinh viên để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn. Nhóm tác giả TS. Võ Thị Ngọc Lan PGS.
Nguyễn Văn Tuấn 4 MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU. 5 Chƣơng 1: CƠ SỞ CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC.
20 Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ KHOA HỌC GIÁO DỤC. CƠ SỞ CHUNG VỀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC. 32 Chƣơng 3: CÁC GIAI ĐOẠN TIẾN HÀNH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC.
GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ. GIAI ĐOẠN TRIỂN KHAI NGHIÊN CỨU. GIAI ĐOẠN VIẾT CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU. GIAI ĐOẠN NGHIỆM THU VÀ BẢO VỆ.
88 Chƣơng 4: HÌNH THỨC VÀ CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN KHOA HỌC. CÁC THỂ LOẠI CỦA LUẬN VĂN KHOA HỌC. TRÌNH BÀY LUẬN VĂN KHOA HỌC. 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
98 5 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC MỤC TIÊU DẠY HỌC: Sau khi học chương này, sinh viên có khả năng: Phân biệt được các khái niệm: khoa học, khoa học giáo dục, nghiên cứu khoa học và nghiên cứu khoa học giáo dục. Giải thích được 6 đặc trưng của nghiên cứu khoa học và 12 đặc trưng của nghiên cứu khoa học giáo dục. Giải thích được 3 yêu cầu đối với người nghiên cứu khoa học. Trình bày và giải thích được các loại hình nghiên cứu khoa học theo 2 cách phân loại.
Giải thích được bốn lĩnh vực nghiên cứu khoa học giáo dục. Có ý thức về tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học đối với sinh viên. Có ý thức thường xuyên trau dồi chuyên môn và rèn luyện đạo đức của nhà khoa học chân chính. Khoa học Thuật ngữ “khoa học” chƣa đƣợc thống nhất, có nhiều quan điểm khác nhau; dƣới đây là một số khái niệm đƣợc sắp xếp từ khái quát, bao quát đến cụ thể giúp cho chúng ta hiểu rõ và đầy đủ về thuật ngữ khoa học: Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con ngƣời nhằm tạo ra và hệ thống hóa những tri thức khách quan về thực tiễn, là một trong những hình thái ý thức xã hội, tức là toàn bộ những tri thức khách quan làm nền tảng cho một bức tranh của thế giới.
Từ “khoa học” cũng có thể biểu thị những lĩnh vực tri thức chuyên ngành nhằm miêu tả, giải thích và dự báo các quá trình, các hiện tƣợng của thực tiễn dựa trên cơ sở những quy luật mà nó khám phá. Khoa học đƣợc hiểu là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật, hiện tƣợng và vận dụng các quy luật ấy để sáng tạo ra nguyên lý, các giải pháp tác động vào các sự vật, hiện tƣợng, nhằm biến đổi trạng thái của chúng. 7 Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tƣ duy với những quy luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tƣ duy. Nó giải thích một cách đúng đắn nguồn gốc của những sự kiện ấy, phát hiện ra những mối liên hệ của các hiện tƣợng, vũ trang cho con ngƣời những tri thức về quy luật khách quan của thế giới hiện thực để con ngƣời áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống.1 “Khoa học là tổng hợp các tri thức về tự nhiên và xã hội tích lũy trong quá trình lịch sử hƣớng đến mục đích cơ bản của nó là xây dựng lý luận để giải thích và tiên đoán các hiện tƣợng, và nhằm thực hiện chức năng xã hội của nó là phục vụ cho các hoạt động thực tiễn.”2 Từ những định nghĩa trên có thể rút ra đƣợc những điểm cơ bản của khoa học là: - Hệ thống tri thức tự nhiên, xã hội, tƣ duy, kỹ thuật và công nghệ; - Giải thích và tiên đoán các hiện tƣợng, sự vật và sự kiện nhằm áp dụng vào hoạt động thực tiễn.
Hệ thống các khoa học đƣợc chia thành nhóm khoa học tự nhiên, nhóm khoa học kỹ thuật và nhóm khoa học xã hội. Giáo dục Thuật ngữ “giáo dục” đƣợc nhiều nhà lý luận dạy học đƣa ra theo cách nhìn nhận riêng của mình. Với cách định nghĩa sau, chúng ta có cách nhìn toàn diện, khẳng định giáo dục là hoạt động với hệ thống biện pháp tác động đến con ngƣời để ngƣời đƣợc tác động có những vốn tri thức, có đạo đức phù hợp với xã hội. “Giáo dục là hoạt động hƣớng tới con ngƣời thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dƣỡng tƣ tƣởng và đạo đức cần thiết cho đối tƣợng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích xã hội, chuẩn bị cho đối tƣợng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội.
Khoa học giáo dục Khoa học giáo dục là ngành khoa học xã hội nghiên cứu bản chất và các quan hệ có tính quy luật của quá trình hình thành con ngƣời nhƣ một nhân cách, là một bộ phận của hệ thống các khoa học nghiên cứu về con ngƣời, bao gồm: giáo dục học, tâm lý học sƣ phạm, lý luận dạy học, 1 Nguyễn Văn Lê (1997), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB. Hồ Chí Minh, tr. Dƣơng Thiệu Tống (2002), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lý, NXB. Khoa học xã hội & Công ty Văn hóa Phƣơng Nam phối hợp thực hiện, tr.
8 phƣơng pháp giảng dạy bộ môn,. Khoa học giáo dục có mối quan hệ với các khoa học khác nhƣ Triết học, Xã hội học, Dân số học, Kinh tế học, Quản lý học,. So với các khoa học khác, khoa học giáo dục có đặc điểm nổi bật là: tính phức tạp và tính tƣơng đối. Tính phức tạp thể hiện ở mối quan hệ giao thoa với các khoa học khác, không có sự phân hóa triệt để, mà cần có sự phối hợp bởi vì con ngƣời vốn là thế giới phức tạp.
Cuối cùng, các quy luật của khoa học giáo dục là mang tính số đông, có tính chất tƣơng đối, không chính xác nhƣ toán học, hóa học,. Khoa học giáo dục nghiên cứu những quy luật của quá trình giáo dục (nhà giáo dục) và quá trình tác động đến đối tƣợng (con ngƣời) tức là quy luật giữa ngƣời với ngƣời, nên thuộc phạm trù khoa học xã hội. Phƣơng pháp của khoa học giáo dục nói riêng và khoa học xã hội nói chung là quan sát, điều tra, trắc nghiệm, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, thực nghiệm,. Khoa học giáo dục nghiên cứu thiết kế mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp và hình thức tổ chức quá trình giáo dục nhằm đạt tới những kết quả tối ƣu trong những điều kiện xã hội nhất định.
Nó nhƣ là một hệ khép kín ổn định. Khi xem giáo dục nhƣ là một hoạt động xã hội, đào tạo ra lực lƣợng lao động mới, khoa học giáo dục nghiên cứu mối quan hệ giữa sản xuất xã hội và đội ngũ ngƣời lao động cần giáo dục đào tạo: - Các yêu cầu của sản xuất xã hội đối với đội ngũ lao động về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất; - Quy hoạch phát triển giáo dục; - Hệ thống giáo dục quốc dân; - Lôgíc tác động qua lại giữa nền sản xuất và đào tạo. Nhƣ vậy, chúng ta có thể nhận thấy là khi xem xét một vấn đề về khoa học giáo dục phải đặt trong nhiều mối quan hệ và tiếp cận hệ thống như: - Hệ thống giáo dục quốc dân gồm nhiều bộ phận hay hệ thống con có sự tác động qua lại với môi trƣờng hay phân hệ khác nhƣ kinh tế, chính trị, văn hóa; - Hệ thống quá trình đào tạo (giáo viên, học sinh, tài liệu, trang thiết bị, lớp học và các tác động của môi trƣờng học ở địa phƣơng,…); - Hệ thống chƣơng trình các môn học; - Hệ thống tác động sƣ phạm đến từng cá thể và đặc điểm nhân cách, tâm lý lứa tuổi,… 9 2. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 2.
Khái niệm Kho tàng tri thức của loài ngƣời ngày càng phong phú và tăng bội phần là do chúng ta, thế hệ sau, nối tiếp nhau làm nên, trong đó, chủ yếu là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học. Vậy, nghiên cứu là gì? 2. Nghiên cứu Nghiên cứu là một từ Hán Việt Nghiên là: nghiền nát Cứu là: xét tìm Nhƣ vậy, nghiên cứu là lấy đá nghiền, lấy cối đâm, để biết tính chất thuộc tính bên trong của sự vật hiện tƣợng. Nghiên cứu đƣợc xuất hiện ở nƣớc ta vào năm 1925 trong lời tựa quyển “Cổ học tinh hoa”.
Có thể nói, từ “nghiên cứu” đã đƣợc sử dụng ở nƣớc ta trong những năm 20 của thế kỷ XX. Năm 1932: trong giản yếu Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh giải thích: Nghiên cứu là tìm tòi nguyên lý cho tới cùng3. Ngày nay nghiên cứu đƣợc hiểu là: - Cách tìm tòi khoa học và có hệ thống để tìm thông tin loại đặc biệt cho một chủ đề cụ thể. Nó nhằm mục đích tìm ra cái sự thực bị giấu kín và chƣa đƣợc phát hiện.
- Vận dụng trí tuệ để tìm cách giải quyết, để phát minh ra tri thức mới. - Tìm tòi, tra cứu sâu rộng và suy xét, so sánh, thực nghiệm về một vấn đề hoặc một khoa học để nâng cao trình độ hiểu biết hoặc phát minh ra cái mới. Nghiên cứu là một công việc mang tính chất tìm tòi, xem xét cặn kẽ một vấn đề nào đó để nhận thức nó hoặc để giảng giải cho ngƣời khác rõ.