CHƯƠNG I: LUẬT BIỂN 1. VÙNG NỘI THỦY 1. Khái niệm về vùng nội thuỷ. a) Định nghĩa về vùng nội thủy: Nội thuỷ là vùng nước nằm ở phía bên trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải chạy theo bờ biển, tại đó quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ và tuyệt đối như trên đất liền.
b) Các thành phần của vùng nội thủy: Trên cơ sở luật biển quốc tế hiện đại, khái niệm nội thuỷ khá phong phú bao gồm nhiều khu vực là bộ phận của nội thuỷ: + Biển nội địa, ví dụ: Biển CAXPIEN, biển Bạch Hải. + Cảng biển: Những cảng thường thường có tàu biển ra vào và được dùng cho ngoại thương được coi là cảng biển. ví dụ: Cảng biển Vũng Tàu + Vũng đậu tàu: Là khu vực dành cho tàu thuyền neo đậu, có thể để chuyển tải hàng hoá hoặc các công việc khác như chờ làm thủ tục, đón trả hoa tiêu. ví dụ: Cảng biển Vũng Tàu, Cái Lăn + Vịnh thiên nhiên: Một vùng lõm sâu rõ rệt vào đất liền mà chiều sâu của vùng lõm đó so sánh với chiều rộng ở ngoài cửa của nó đến mức là nước của vùng lõm đó được bờ biển bao quanh và vùng lõm đó sâu hơn là sự uốn cong của bờ biển.Tuy nhiên vùng lõm đó chỉ được coi là một vịnh nếu thoả mãn hai điều kiện: − Diện tích của vịnh ít nhất cũng bằng một nửa hình tròn có đường kính là đường thẳng kẻ ngang qua cửa vào của vùng lõm.
Diện tích của một vùng lõm này được tính giữa ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển của vùng lõm và đường thẳng nối liền các ngấn nước triều thấp nhất ở các điểm của cửa vào tự nhiên. Nếu do có các đảo mà một vùng lõm có nhiều cửa vào thì nửa hình tròn nói trên có đường kính bằng tổng số chiều dài các đoạn thẳng cắt ngang các cửa vào đó. − Đường khép cửa vào tự nhiên của cửa vịnh không vượt quá 24 hải lý. Trong trường hợp ngược lại thì cần phải vạch các đoạn cơ sở thẳng (nói ở phần đường cơ sở) dài 24 hải lý ở phía trong cửa vịnh sao cho phía trong của nó có một diện tích tối đa.
Cần chú ý: diện tích các đảo nằm trong vùng lõm được tính vào diện tích chung của vùng lõm. + Vùng nước lịch sử, vịnh lịch sử. − Vùng nước lịch sử: Người ta gọi chung vùng nước lịch sử các vùng nước mà người ta đối xử như các vùng nước này thiếu một danh nghĩa lịch sử thì nó không có tính chất đó. − Vịnh lịch sử: Một vịnh được coi là vịnh lịch sử căn cứ vào tập quán và các phán quyết của Toà án và trọng tài quốc tế phải thoả mãn ba điều kiện sau: Thực hiện một cách thực sự chủ quyền của quốc gia ven biển; Thực hiện việc sử dụng vùng biển trên một cách liên tục, hoà bình và lâu dài; Có sự chấp nhận công khai hoặc sự im lặng không phản đối của các quốc gia khác, nhất là các quốc gia láng giềng và có quyền lợi tại vùng biển này.
Việt Nam có hai vùng nước lịch sử: Phần vùng nước lịch sử tại vịnh Bắc Bộ; Phần vùng nước lịch sử tại giới hạn bởi các bờ biển Hà Tiên (Việt Nam) và Cam pu chia, đảo Phú Quốc. + Vùng nước quần đảo của các quốc gia quần đảo: Vùng nước quần đảo của các quốc gia quần đảo là một phạm trù mới xuất hiện cùng với quy chế về quốc gia gồm quần đảo ở Công ước quốc tế và luật biển năm 1982. Nó được coi vừa là vùng nước nội thuỷ vừa được coi là lãnh hải Vùng nước quần đảo nằm bên trong đường cơ sở đặt dưới chủ quyền hoàn toàn của quốc gia quần đảo và trong vùng nước quần đảo, quốc gia quần đảo có quyền hoạch định nội thuỷ của họ. Vùng nước quần đảo rất rộng vì đường cơ sở được quy định dài đến 100 hải lý và có thể dài hơn thế nữa, đến 125 hải lý (3% đường cơ sở có thể kéo dài như vậy) và tỉ lệ nước và đất có thể tính từ 1/1 đến 9/1.
Quốc gia quần đảo được quyền quy định hành lang hàng hải và hành lang bay; chấp nhận cho các nước láng giềng hưởng quyền đánh cá và có những hoạt động chính đáng khác trong vùng nước quần đảo, có tính chất truyền thống và tập quán. Pháp luật hàng hải 5 Thạc Sỹ KHHH: Đặng Trường Giang 1. Chế độ pháp lý vùng nội thuỷ. Đặc điểm chủ quyền quốc gia trong vùng nội thuỷ.
Vùng nước nội thuỷ là một bộ phận lãnh thổ quốc gia không thể tách rời, nó gắn liền với lục địa được coi như vùng nước sông, hồ trong lục địa. Bởi vậy chủ quyền quốc gia trong vùng nội thuỷ là chủ quyền về mặt lãnh thổ, chủ quyền này được thực hiện một cách đầy đủ, toàn vẹn và riêng biệt như đối với đất liền. Quy chế pháp lí chung về hoạt động của tàu thuyền nước ngoài trong vùng nội thuỷ. Hầu hết các nước đều quy định tàu thuyền nước ngoài (bao gồm cả tàu quân sự và tàu dân sự) khi muốn vào nội thuỷ của nước mình đều phải thực hiện chế độ xin phép trước và chỉ khi có sự đồng ý của quốc gia ven biển thì tàu thuyền đó mới được phép đi vào vùng nội thuỷ.
Thông thường theo tập quán quốc tế, các quy định về thời gian xin phép và thủ tục xin phép không áp dụng đối với các trường hợp tàu thuyền nước ngoài bị nạn hoặc đang bị uy hiếp về an toàn của chính phương tiện cũng như sự an toàn về sinh mạng của con người đang ở trên các tàu thuyền đó. Khi được phép đi vào vùng nội thuỷ của nước ven biển, tàu thuyền nước ngoài phải tuân thủ các quy định sau đây để đảm bảo an ninh, trật tự công cộng cũng như về an toàn hàng hải trong khu vực: + Khi vào vùng nội thuỷ của nước ven biển, tàu thuyền nước ngoài không chỉ treo cờ mà tàu thuyền đó mang quốc tịch mà còn phải treo quốc kỳ của nước ven biển trên đỉnh cột cờ cao nhất. + Phải chấp hành đúng các quy định của luật pháp quốc tế cũng như của quốc gia ven biển về an toàn hàng hải khi hoạt động trong vùng nội thuỷ. + Phải đi nhanh chóng, liên tục theo đúng tuyến đường và hành lang quy định.
+ Các tàu thuyền nước ngoài có trang bị vũ khí cố định, lưu động phải đưa về tư thế bảo quản niêm cất: đạn phải tháo khỏi nòng cất trong hòm đóng khoá lại, súng phải khoá nòng, chúc xuống và phủ bạt + Không được gây ô nhiễm môi trường biển hoặc có bất kỳ hành động nào làm ảnh hưởng đến an ninh, kinh tế và trật tự công cộng của nước ven biển. + Các loại tàu ngầm đều phải đi nổi và phải chấp hành các mặt như đối với tàu nổi. + Nói chung, để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia về các mặt an ninh quốc phòng, an ninh kinh tế, trật tự công cộng và các lợi ích khác trong vùng nội thuỷ, các quốc gia ven biển đều ban hành các quy chế về hoạt động của tàu thuyền nước ngoài trong vùng nội thuỷ của mình một cách hết sức chi tiết và cụ thể. Quyền tài phán của quốc gia ven biển đối với tàu thuyền nước ngoài trong vùng nội thuỷ.
+ Đối với tàu quân sự: Những tàu quân sự nước ngoài đi vào, đậu lại hoặc hoạt động hợp pháp ở vùng nội thuỷ của quốc gia ven biển thì được hưởng quyền miễn trừ tư pháp và được coi là bất khả xâm phạm. Tuy nhiên tàu quân sự nước ngoài vẫn phải chấp hành nghiêm chỉnh mọi luật lệ có liên quan của quốc gia ven biển trong vùng nội thuỷ. Trong trường hợp tàu quân sự nước ngoài vi phạm các quy định luật pháp nước ven biển thì quốc gia ven biển có quyền ra lệnh cho tàu quân sự đó rời khỏi nội thuỷ của nước mình trong thời gian nhất định, yêu cầu chính phủ của nước có tàu phải chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại do tàu của họ gây ra taị vùng nội thuỷ của quốc gia ven biển. Nước ven biển không có quyền bắt giữ tàu quân sự nước ngoài hoạt động hợp pháp trong vùng nội thuỷ của mình để thẩm vấn hoặc để tiến hành các biện pháp tố tụng khác.
+ Đối với tàu dân sự: tàu dân sự nước ngoài khi hoạt động trong vùng nội thuỷ của quốc gia ven biển phải chịu sự tài phán theo luật của nước địa phương. Các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia ven biển có quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết để đảm bảo an toàn, an ninh, trật tự và các lợi ích của mình. Các biện pháp này bao gồm cả việc bằt giữ xét xử những cá nhân và tàu thuyền vi phạm, nếu sự vi phạm là nghiêm trọng thì tàu thuyền có thể bị giữ lại để làm vật đảm bảo tố tụng hoặc bị tịch thu, trừ trường hợp các tàu của nhà nước làm chức năng công cộng hoặc trường hợp pháp luật hay điều ước quốc tế mà quốc gia ven biển ký kết, tham gia có quy định khác.3 Chế độ pháp lý cảng biển. Khái niệm về chế độ pháp lý cảng biển: Cảng biển là một khu vực nằm trong vùng nội thuỷ của một quốc gia, nó là bộ phận của nội thuỷ, do vậy chế độ pháp lý của cảng biển cũng chính là chế độ pháp lý vùng nội thuỷ.
Tuy nhiên, cảng biển là những Pháp luật hàng hải 6 Thạc Sỹ KHHH: Đặng Trường Giang đầu mối giao thông hàng hải quốc tế quan trọng, nơi diễn ra các hoạt động ngoại thương và các dịch vụ khai thác kinh tế quan trọng khác. Ở đây thường xuyên có tàu thuyền nước ngoài ra vào để buôn bán, trao đổi và giao lưu văn hoá làm nảy sinh nhiều mối quan hệ mang tính chất đối ngoại, cho nên các vấn đề về an ninh quốc phòng, an ninh kinh tế, trật tự và an toàn hàng hải cũng như các thể lệ về quản lý hành chính nhà nước được quốc gia có cảng biển đặc biệt chú trọng. Trong thương mại hàng hải quốc tế, các quốc gia có cảng thường ký kết các hiệp định tương trợ nhằm bảo hộ địa vị pháp lý cho tàu thuyền của nước mình khi hoạt động trong cảng của nước khác.