Chương 1. Tổng quan về kinh doanh và quản trị kinh doanh 1. Tổng quan Kinh doanh 1. Kinh doanh Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.2 Thị Trường Thị trường người tiêu dùng bao gồm tất cả các cá nhân, các hộ tiêu dùng mua hàng hóa hay dịch vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân. Thị trường bao gồm tất cả các khách hàng có nhu cầu hay mong muốn chưa thỏa mãn, có khả năng và sẵn sàng tham gia trao đổi để thỏa mãn những nhu cầu hay mong muốn đó. (Philip Kotler, 2012) Thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sản phẩm, dịch vụ.
Thực chất, Thị trường là tổng thể các khách hàng tiềm năng cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó.3 Khách hàng Khách hàng là những cá nhân hay tổ chức mà doanh nghiệp đang hướng các nỗ lực Marketing vào. Họ là người có điều kiện ra quyết định mua sắm. Khách hàng là đối tượng 1 được thừa hưởng các đặc tính, chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ. Các loại hình khách hàng: người tiêu dùng, nhà sản xuất, trung gian phân phối, cơ quan nhà nước và tổ chức phi lợi nhuận, khách hàng quốc tế,.4 Nhà cung ứng Nhà cung ứng (Supplier) được định nghĩa đơn giản là một bên (có thể là một tổ chức hay cá nhân) cung cấp hàng hóa hay dịch vụ.
Trong thị trường thương mại hiện đại, có rất nhiều nhà cung ứng (Supplier) tham gia vào chuỗi cung ứng.5 Sản Phẩm – Dịch vụ Sản phẩm là mọi thứ có thể chào bán trên thị trường để chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng, có thể thỏa mãn được một nhu cầu hay ước muốn (Philip Kotler, 2012) Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ.6 Phân Phối – Kênh phân phối Phân phối trong Marketing là một quá trình chuyển đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, thể hiện qua nhiều phương thức và hoạt động khác nhau (Philip Kotler, 2012) Hoạt động phân phối là khâu trung gian, là cầu nối tạo điều kiện cho cung và cầu trên thị trường gặp nhau. Hoạt động phân phối hiệu quả giúp đẩy nhanh quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp. Có thể nói hoạt động phân phối là một công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp.
Kênh phân phối sản phẩm là tập hợp các tổ chức và cá nhân làm nhiệm vụ chuyển đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng. Kênh phân phối kết hợp tất cả các thành viên tham gia vào tiến trình phân phối gồm nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, nhà buôn sỉ, nhà buôn lẻ, đại lý và người tiêu dùng. Vai trò của kinh doanh Hiệu quả của nền kinh tế quốc dân phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh cá biệt của các doanh nghiệp. Nếu hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp được nâng cao sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế quốc dân, góp phần tạo sự tăng truởng kinh tế, nâng cao mức sống xã hội, giữ vững trật tự an ninh xã hội.
2 Ðối với doanh nghiệp: Hiệu quả kinh doanh biểu hiện qua các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả, được tối đa hoá và nó phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, trình độ công nghệ, quản lý vốn và nguồn lực của doanh nghiệp. Trong cơ chế thị trường, hiệu quả kinh doanh đóng vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định khả năng cạnh tranh và phát triển của doanh nghiệp. Khi có hiệu quả của doanh nghiệp mới có khả năng tái đầu tư để đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất hoạt động, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Ðối với người lao động: Khi doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả sẽ mang lại cho nguời lao động công việc và thu nhập ổn định, đời sống vật chất và tinh thần, điều kiện và môi trường làm việc của người lao động ngày càng được cải thiện, nâng cao.
Mặt khác khi người lao động yên tâm, gắn bó với doanh nghiệp thì họ sẽ toàn tâm toàn ý với công việc, khi đó năng suất lao động sẽ tăng lên góp phần vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các mô hình hoạt động kinh doanh Người tiêu dùng. - C2C (Consumer – To – Comsumer) Người tiêu dùng với người tiêu dung - C2B (Consumer – To – Business) Người tiêu dùng với doanh nghiệp - C2G (Consumer – To – Goverment) Người tiêu dùng với chính phủ Doanh nghiệp - B2C (Business – To – Consumer) Doanh nghiệp với người tiêu dùng - B2B (Business – To – Business) Doanh nghiệp với doanh nghiệp - B2G (Business – To – Goverment) Doanh nghiệp với chính phủ - B2E (Business – To – Employee) Doanh nghiệp với nhân viên Chính phủ - G2C (Government – To – Consumer) Chính phủ với Người tiêu dùng - G2B (Government – To – Business) Chính phủ với doanh nghiệp - G2G (Government – To – Government) Chính phủ với chính phủ 3 1. Kinh doanh quốc tế Kinh doanh quốc tế là toàn bộ các hoạt động kinh doanh, giao dịch được thực hiện giữa các quốc gia, nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh của cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế.
Việc tổ chức kinh doanh trên thị trường quốc tế có nhiều đặc điểm khác biệt so với cung cấp dịch vụ kinh doanh trong nước vì đối với mỗi khu vực trên thế giới, sẽ có những phương thức tiếp cận kinh doanh khác nhau. Đội ngũ nhân lực chuyên ngành kinh doanh quốc tế chính là là mấu chốt tháo gỡ các vấn đề khó khăn và hỗ trợ tích cực cho doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Quản trị kinh doanh 1. Khái niệm Quản trị kinh doanh là thực hiện các chức năng quản lý của một doanh nghiệp.
Nó bao gồm tất cả các khía cạnh của việc hoạch định, tổ chức, thực hiện, kiểm tra và giám sát hoạt động kinh doanh và lĩnh vực liên quan bao gồm; Marketing, nguồn nhân lực, tài chính, chuỗi cung ứng, chiến lược kinh doanh, quản trị sản xuất…. Cơ sở lý luận và phương pháp luận của quản trị kinh doanh Kính tế học là một bộ phận thuộc khoa học xã hội, vì vậy kinh tế học và các bộ mô thuộc kinh tế học vận động theo quy luật của khoa học xã hội. Coi chủ nghĩa duy vật biện chứng là phương pháp luận nghiên cứu. Bên cạnh đó môi trường kinh tế đang điều tiết theo quy luât cung – cầu.
Quản trị kinh doanh sản phẩm, dịch vụ cần tuân thủ theo quy luật này. Quản trị là một quá trình thực hiện đầy đủ các chức năng cơ bản từ hoạch địch, tổ chức, thực hiện và kiểm tra trong một tổ chức nhằm đạt được một mục tiêu cụ thể. Quản trị kinh doanh cần kết hợp các nội dung quy luật phát triển xã hội, quy luật cung cầu, chức năng của quản trị để vận hành, áp dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Cơ sở tổ chức của hoạt động quản trị kinh doanh Cơ sở tổ chức hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam được điều chỉnh theo Luật Doanh nghiệp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội ban hành năm 2014.
Luật này quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; quy định về nhóm công ty. Quá trình tiến hành kinh doanh Qua trình tiến hành kinh doanh, cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cơ bản cần theo một tiến trình quản trị cụ thể từ; hình thành ý tưởng, thực thi ý tưởng kinh doanh, kiểm tra và điều chỉnh ý tưởng. 5 Cụ thể theo mô hình sau: Phân tích môi Thiết lập mục Thiết lập mục trường bên ngoài , tiêu dài hạn tiêu hàng năm xác định cơ hội, nguy cơ Xác định tầm nhìn sứ mạng Đo lường mục Xác định lại Phân phối và đánh tiêu mục tiêu kinh các nguồn giá việc chiến doanh lực thực hiện lược chiến lược kinh doanh Phân tích môi Lựa chọn các trường bên chiến lược để trong, nhận diện Đưa ra các thực hiện những điểm chính sách mạnh, yếu 1. Đổi mới các hoạt động kinh doanh Cùng với sự hôi nhập kinh tế quốc tê, khoa học kỹ thuật.
ngày nay các hoạt động kinh doanh luôn luôn biến đổi theo xu hướng áp dụng công nghệ, thương mại điện tử, kinh doanh quốc tế. Mô hình và phương thực hoạt động kinh doanh truyền thống dẫn bị thay đổi bởi mô hình thương mại điện tự, kinh danh đa quốc gia, liên kết chéo giữa các tập đoàn trên thế giời. Đặc trưng của nghề kinh doanh 1. Nghề kinh doanh – một nghề cần trí tuệ Cạnh tranh trên thị trường ngày cang khốc liệt.
kinh doanh ngày nay cần tạo sự khác biệt sự khác biệt đó cần đáp ứng được nhu cầu hiện tại và tạo ra vị thế trong tương lai. Sản phẩm, 6 dịch vụ cung cấp ra thị trường cần đáp ứng nhu cầu khách hàng nhưng cũng phải tạo được rào cản khó bắt chước cho các đối thủ. Công việc này cần mộ Nhà quản trị, Doanh nhân có trí tuệ thông minh. Thông minh trước sự thay đổi của thị trường.
“Khi đánh giá một hạng mục đầu tư, có nhiều cách kiểm soát sự mạo hiểm và tăng tính hiệu quả của nó. Nhưng bạn không thể bỏ qua nguyên tắc cơ bản là phải đa dạng hoá toàn bộ hạng mục để thành công” (Kay-Yut Chen 2016).