Chương I của Luật Thống kê cụm từ chì tiêu thống kê được giải thích như sau : "Chí tiêu thống kê là tiêu chí mà biểu hiện bằng số cúa nó phản ánh quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể".3 1 Luật Thống kê. NXB Thống kê, Hà Nội, 2006, trang 14. 10 Ví dụ, giá trị sán xuất công nghiệp cúa Việt Nam năm 2004 theo giá thực tế là 809 nghìn tỷ đổng; thu nhập bình quân hàng tháng của mộl lao động trong khu vực Nhà nước năm 2005 theo giá thực tế là 1,7 triệu đồng. Do chí tiêu thống kê được tống hợp từ mặt lượng cúa nhiều đơn vị, nên chí tiêu phản ánh những mối quan hệ chung cúa tất cả các đơn vị hoặc nhóm đơn vị lổng thể.
Chi tiêu thống kê bao gồm khái niệm và mức độ. Khái niệm về chì tiêu bao gồm định nghĩa và giới hạn vẻ thuộc tính, còn mức độ của chỉ tiôu được biểu hiện bằng các thang đo khác nhau phản ánh quy mô, tốc độ phát triên. cơ cấu, quan hộ tỷ lệ của hiện tượng nghiên cứu. Căn cứ vào nội dung, có thể chia các chỉ ticu thống kê thành hai loại: chí liêu chất lượng và chi tiêu khối lượng.
Chỉ tiêu chất lượng biểu hiện các tính chất, tốc độ phái triển, trình độ phố biến, mối quan hộ cũa tổng thể như giá bán đơn vị sán phẩm, nàng suất lao động, tỷ suất lợi nhuận trên vốn. Chí tiêu khối lượng biểu hiện quy 1Ĩ 1Ô cùa tổng thổ, ví dụ số lượng sán phẩm tiêu thụ, lống doanh thu tiêu thụ sán phẩm và cung cấp dịch vụ, tổng vốn dùng vào sản xuất kinh d oanh. Việc phân loại nàv nhằm đáp ứng yêu cầu của một số phương pháp phán tính Ihống kê. Tập hợp các chí tiêu số lượng và chất lượng theo từng yêu cầu nghién cứu cụ thổ ta được các hệ ihống chỉ tiêu.
Hệ thống chi tiêu là một tập hợp những chí tiêu có thể phản ánh các mặt. các tính chất quan trọng nhất, các mối liên hệ cơ bản giữa các mặt của tổng thể và mối liên hộ giữa tổng thể với các hiện tượng liên quan. Hệ thống chỉ tiêu được cấu thành từ nhiều nhóm chỉ tiêu và được xây dựng theo những yêu cầu nghiên cứu riêng. Chẳng hạn, hệ thống chí tiêu thống kê chú yếu của doanh nghiệp bao gồm các nhóm chỉ ticu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh, tình hình sử dụng các yếu tố sản xuất, chi phí sán xuất và nhóm các chỉ tiêu khác.
Nếu yêu cầu nghiên cứu cần chi tiết hơn, có thể thêm các nhóm chí tiêu về giá thành, giá bán sản phẩm và hiệu quả sản xuât kinh d o a n h. Hệ thống chí tiêu là cơ sở đê thu thập, tổng hợp thông tin từ các đơn vị tổng thế, tính toán trị số của chí tiêu giúp nhận thức được bản chất, tính quy luật và xu hướng phát triển của hiện tượng số lớn. Xây dựng (hay xác định) hệ thống chí tiêu cho một hướng nghiên cứu cụ thể phải dựa trên các căn cứ sau đây: 11 - Phải xuất phát từ mục đích nghiên cứu. M ục đích nghiên cứu quyết định nhu cầu thông tin về những mặt, những k hía cạnh cúa đối tượng nghiên cứu.
- Phải dựa vào tính chất và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu càng phức tạp thì số lượng chi tiêu xây dựng càng nhiều và ngược lại. - Phải dựa vào khả năng cho phép về nhân, tài, vật lực để tiến hành thu thập và tổng hợp thông tin cho các chỉ tiêu. Căn cứ này đòi hỏi người xây dựng hệ thống chí tiêu phải cân nhắc để xác định những chỉ tiêu cơ bản và quan trọng nhất, sao cho với số lượng chỉ tiêu không nhiều nhưng vẫn đáp ứng được mục đích nghiên cứu.
Ngoài việc tuân thủ các căn cứ mang tính nguyên tắc, hệ thống chi tiêu xây dựng cho một hướng nghiên cứu cụ thể nào đó còn cần phải đáp ứng các yêu cầu sau: - Hệ thống chỉ tiêu phải có khả năng nêu lên được mối liên hệ giữa các bộ phận, các mặt của đối tượng nghiên cứu và giữa đối tượng nghiên cứu với các hiện tượng có liên quan theo mục đích nghiên cứu đã để ra. - Trong hệ thống chí tiêu ngoài các chí tiêu m ang tính chất chung (tổng hợp) còn phải có các chỉ tiêu phản ánh các bộ phận cúa đối tượng nghiên cứu, các chỉ tiêu phản ánh các nhân tố tác động đến đối tượng nghiên cứu. - Các chỉ tiêu trong hệ thống phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung, phương pháp và phạm vi tính toán. C Á C LOẠI THANG ĐO TRO N G THÔNG K Ê Theo tính chất của việc đo lường, người ta thường sử dụng bốn loại thang đo sau đây: 1.
Thong đo đỉnh danh (hay cTặt tên) Thang đo này dùng để đếm tần số biểu hiện của tiêu thức thuộc tính. Khi sử dụng thang đo này để tổng hợp dữ liệu cần tiến hành đánh số (hay đặt tên) các biểu hiện cùng loại của tiêu thức. Ví đụ, khi tổng hợp giới tính của dân số, biểu hiện "nam" được đánh số 1 và "nữ" được đánh số 2. Giữa các con số ở đây không có quan hệ hon, kém.
Vì thế, các phép tính với chúng đểu là vô nghĩa. Thong cío thứ bộc Thang đo thứ bậc là thang đo định danh, được dùng để đếm số lần biểu hiện cúa tiêu thức thuộc tính có sự hơn kém khi tổng hợp dữ liệu thống kê. Chênh lệch giữa các biểu hiện không nhất thiết phải bằng nhau. V í dụ, chất lượng sán phẩm gồm ba loại: loại một, hai và ba; trình độ văn hóa phổ thông có ba cấp: cấp một, hai và ba; chất lượng học tập của sinh viên trong các trường đại học được phân loại thành: xuất sắc, giỏi, khá, trung bình, yếu kém; bậc thợ của công nhân cơ khí gồm: bậc 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 7 ,.
con số có trị số lớn hơn không có nghĩa ở bậc cao hơn và ngược lại, mà là do sự quy định. Thang đo này được dùng để tính toán đặc trưng chung của tổng thể một cách tương đối như tính bậc thợ bình quân, bậc chất lượng bình quân của sản phẩm. Thong cTo khoảng Thang đo khoảng là thang đo Ihứ bậc có các khoảng cách đểu nhau. Có thể đánh giá được sự khác biệt cụ thể về lượng giữa các biểu hiện của tiêu thức.
Ví dụ, thu nhập hàng tháng tính bằng nghìn đổng của lao động ở một doanh nghiệp và thang đo khoảng: - Dưới 800 - 8 0 0 H- 9 0 0 - 9 0 0 - 1000 - T r ê n 1000 Trong thang đo khoảng, lượng biến của tiêu thức nghiên cứu có thể được trình bày dưới dạng một phân bố tần số (chẳng hạn, có bao nhiêu người có mức thu nhập dưới 800 nghìn đồng,. Yêu cầu có khoáng cách đều nhau là đặt ra đối với thang đo, còn biểu hiện về lượng của tiêu thức được đo không nhấi thiết phái bằng nhau. Như vậy, thang đo luôn có đơn vị đo và được dùng để tổng hợp lượng biến của các tiêu thức số lượng, có thể thực hiện được các phép tính số học đối với các lượng biến của tiêu thức nghiên cứu, nên có thể tính được các đặc trưng thống kê như số trung bình, trung vị, mốt, phương sai. Thang cTo tộ lệ Thang đo tỷ lệ là thang đo khoảng với một điểm khồng (0) tuyệt đối 13 (điếm gốc).
Do có điểm gốc trên thang đo nên có thể so sánh được tỷ lệ giữa các trị sô' đo, cho biết số lượng thực tế của m ột đặc trưng đang đo lường, ví dụ: số cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp đạt mức thu nhập trên 5 triệu đồng; số công nhân hoàn thành vượt định mức khoán sản p h ẩ m. Đây là thang đo định lượng chặt chẽ nhất. Với thang đo này ta có thể đo lường được các biểu hiện của tiêu thức theo các đơn vị hiện vật (hiện vật tự nhiên, hiện vật vật lý, hiện vật quy c h u ẩ n .) và thực hiện được tất cả các phép tính với trị số đo. Theo thứ tự, thang đo sau có chất lượng đo lường cao hơn thang đo trước, đồng thời việc xãy dựng thang 4 ° (xác định trị số cụ thể cho biếu hiện của tiêu thức) cũng phức tạp hơn.
Trong bốn thang đo trên, hai loại đầu được gọi là thang đo định danh (hay định tính), còn hai loại sau được gọi là thang đo định lượng. V iệc xây dựng thang đo định danh rất đơn giản, còn đối với thang đo định lượng, khi xây dựng phải lấy ý kiến chuyên gia kết hợp với vận dụng các phương pháp tính toán thích hợp. Phương pháp xây dựng thang đo cụ thế được trình bày trong các giáo trình thống kê ứng dụng. HAI HÌNH THỨC TRÌNH B À Y TÀI LIỆU THỐNG K Ê Sau khi tổng hợp mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu, số liệu thống kê được trình bày trên các vật mang thông tin phục vụ cho hoạt động phân tích, truyền đạt và lưu trữ số liệu thống kê.
Có hai hình thức trình bày tài liệu thống kê đó là bảng (biểu) số liệu và đồ thị thống kê. Bỏng (biểu) thống kê 1. Khái niêm bảng thống kê Bảng thống kê là sự sắp xếp theo hệ Ihống hai chiều số liệu vé các chi tiêu thống kê trên các hàng và cột. Tác dung của bảng thống kê - Các tài liệu trong bảng đã được sắp xếp một cách hệ thống nên có thể s ử dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu và các phương pháp phân tích khác để nêu lên bản chất của hiện tượng nghicn cứu.
14 Báng thống kê dược thiêì kê' và trình bàv mội cách khoa học sẽ trớ thành cơ sứ dữ liệu quan trọng đế phán tích, chứng minh hiện tượng nghicn cứu m ột cách sinh dộng. K ết c ấ u của m ô t b ả n g th ố n g kê, g ổ m có: Tôn bàng hoặc ticu đề: được viết ngắn gọn, dỗ hiếu phán ánh nội dung cứa báng và cúa từng chi tiết trong báng. Trước hết có tiêu đề chung hay lén aợi chung, dặl ớ phía trẽn đầu của báng Ihống kê; phía trong báng có các liêu dề nhó (hay tiêu mục) là tên ricng cúa mỗi hàng và cột. Phán chủ đc (hay chú từ): ncu lên tống thổ nghiên cứu được trình bày trong bang và dược phân chia ihành nhữnu bộ phận nào.