CHƯƠNG I. KHÁI NIỆM, CHỨC NĂNG VÀ NGUYÊN TẮC. 21 của thị trường. Vì vậy luật về thương nhân là một tiểu phân ngành - quan trọng của luật thương mại và bao gồm các chế định: - Qui chế thương nhân.
Khác với các chủ thể thông thường của luật dân sự, thương nhân phải chịu sự chỉ phối bởi một quy chế ngặt nghèo hơn. Đó là các tiêu chuẩn để trở thành thương nhân và nhiệm vụ của thương nhân, bao gồm: điều kiện để trở thành thương nhân, đăng ký thương mại, công bố các thông tin liên quan, tuân thủ các quy tắc về sổ sách thương mại, cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. - Sản nghiệp thương trại. Đây là một chế định bao gồm các quy tắc về khai thác, thế chấp, cho thuê, chuyển nhượng sản nghiệp thương mại.
Khi tiến hành kinh doanh, thương nhân cần có sản nghiệp thương mại mà được xem là động sản gồm các yếu tố hữu hình và vô hình như: hàng hoá, trang thiết bị, bàn ghế, khách hàng, quyền sở hữu công nghiệp (biển hiệu, biểu tượng, tên thương mại, nhãn hiệu hàng hoá, phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, quyển tác giả), và quyển sở hữu thương mại bao gồm quyền thuê mướn bất động sản, quyền khai thác thương mại. Thương nhân theo truyền thống được phân chia ra làm hai loại là thương nhân thể nhân, và thương nhân pháp nhân. Loại thương nhân thứ hai này còn gọi là thương nhân bởi hình thức hay công ty. Chế định công ty chiếm một tỷ trọng khá lớn trong các đạo luật về thương mại bởi chúng khá phức tạp và là thành tố chính của thị trường.
| Luật về giao dịch thương mại hay luật về hành vi thương mai bao gồm các chế định truyền thống có quan hệ hay gắn bó chặt chẽ với hoạt động của thương nhân từ thời kỳ Trung cổ và một số chế định mới phát sinh ngày nay. Việc lý giải cho các chế định của luật về giao dịch thương mại thông thường phải gắn với việc phân tích lịch sử ra đời và phát triển của luật thương mại. Có thể con đường hình thành nên các giao dịch thương mại như sau: Việc sản xuất dư thừa tại một vài nơi nào đó với một số loại sản phẩm nào đó trong xã:hội làm sinh ra một tầng, lớp sống bằng nghề mua bán, 22 GIAO TRINH LUAT THUONG MAI trao đổi hàng hoá mà được gọi là các thương nhân. Việc mua bán hàng hoá kéo theo các hoạt động tín dụng, vận chuyển.
Từ đó phát sinh ra các nhu cẩu: ngân hàng, hối đoái, thuê thiết bị, bảo hiểm, thương phiếu, trung gian thương mại, vận chuyển hàng hóa. Các chế định này được xem là các chế định truyển thống của luật thương mại. Tuy nhiên ngày nay hành vi thương mại được mở rộng hơn nữa mà sẽ được để cập tới ở các chương sau. Ngoài ra khi nói tới luật thương mại người ta không thể quên nhắc tới chế định phá sản, thanh toán tài sản bao gồm các quy tắc dự liệu cho các trường hợp bất thường xảy ra đối với thương nhân trong hoạt động kinh doanh.
Nguồn của luật thương mại 1. Vấn đề pháp điển hóa luật thương mại va nguén van ban qui phạm pháp luật | Luat thương mại hay luật thương nhân được xây dựng trên hay là một tập hợp các qui tắc tập quán của các thương nhân từ thời Trung cổ. Do đó việc pháp điển hóa hay áp dụng luật thương mại có những điểm khác biệt và thường được bàn luận sôi nổi. Phần lớn các nước thuộc Họ Pháp luật La Mã - Đức xây dựng 02 bộ luật lớn và cơ bản là Bộ luật Dân sự và Bộ luật Thương mại.
Truyển thống pháp điển hoá như vậy xuất phát từ nhiểu yếu tố mà trước hết là từ nguổn gốc của các qui tắc pháp lý hay lịch sử của các ngành luật. Tuy nhiên ở những nước hợp nhất luật dân sự và luật thương mại để xây dựng một bộ luật áp dụng cho cả quan hé dan sự và quan hệ thương mại, người ta vẫn đạy riêng luật thương mại, và không phải rằng luật thương mại bị thủ tiêu. Việc hợp nhất luật dân sự và luật thương mại chỉ là giải pháp lập pháp, chứ không phải là sự không thừa nhận sự tổn tại khách quan của các quan hệ thương mại. Denis Talon khẳng định rằng: “Tính tự trị (autonomy) của ngành luật thương mại được giải thích bởi sự cẩn thiết đặc biệt mà tương phản với các trật tự của ngành luật dan su thông thường.
KHAI NIEM, CHỨC NĂNG VÀ NGUYEN TAC. 23 Luật thương mại đòi hỏi sự nhanh chóng, trong khi đó luật dan si được xây dựng trên cơ sở bảo đảm an toàn. Luật thương mại bảo hộ lớn hơn đối với chủ nợ, người cần thiết sự bảo đảm chi tra đúng han, bởi đó là qui luật của tín dụng “19, Ở các nước theo Common Law, mặc dù không có truyền thống phân chia các ngành luật như ở các nước theo Civil Law hay Sovietique Law, vẫn có sự phân biệt thương nhân và phi thương nhân trong một số trường hợp như mua bán hàng hoá, thuế, phá sản, đăng ký thương mại. Điều đó có nghĩa là vẫn có các quan hệ thương mại tồn tại một cách khách quan.
Nói tới pháp điển hoá luật thương mại là nói tới ba khuynh hướng chủ yếu như: (1) Xây dựng hai Bộ luật khác biệt nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau là Bộ luật Dân sự và Bộ luật Thương mại; (2) xây dựng một Bộ luật Dân sự điều tiết cả lĩnh vực dân sự và lĩnh vực thương mại; và (3) xây dựng nhiều đạo luật nhỏ lẻ về thương mại bên cạnh Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên khi đã lựa chọn khuynh hướng xây dựng hai bộ luật thì nhiều nước nghĩ tới việc cho ra đời Bộ luật Thương mại với một phạm vi bao quát hầu hết lĩnh vực thương mại. Tuy nhiên tư duy của một số luật gia ở Việt Nam hiện nay chỉ đặt ra một yêu cầu rất khiêm tốn là xây dựng và cho ra đời một đạo luật gọn nhẹ về mua bán hàng hoá và các dịch vụ liên quan tới mua bán hàng hoá để gọi nó là “Luật Thương mai”. cht Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay đang có nhiều đạo luật qui định về nhiều chế định của luật thương mại như: Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Phá sản, Luật Cạnh tranh, Luật Đầu tư, Luật Sở hữu trí ' tuệ, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Kinh doanh Bảo hiểm, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các Tổ chức Tín dụng,.
Luật các Công cụ chuyển nhượng, Luật Chứng khoán, Luật Du lịch, Luật Kinh đoanh bất động sản, Bộ luật Hàng hai. Cac dao © Denis Tallon, Civil Law and Commercial Law, J. Mohr ( Paul Siebeck), Tuebingen and Martinus Nijhoff Publishers, The Hague- Boston- London, 1983, p. : 24 | GIAO TRINH LUAT THUONG MAI luật riêng lẻ này không được xây dựng thành một hệ thống phan ánh logic bên trong của luật thương mại.
Khi xây dựng chúng người ta chỉ đại để xếp chúng vào luật kinh tế hoặc luật tài chính hoặc luật ngân hàng theo quan niệm có từ thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, trong khi đất nước ta đang xây dựng nển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế rất cẩn sự cải cách. Có thể nói rằng, các đạo luật đơn lẻ nói trên không có chung một gốc. Vì vậy trong một chừng mực nhất định chúng luôn luồn mâu thuẫn, chổng chéo, có thể gây cản trở cho việc phát triển kinh tế thị trường. Hơn nữa đôi khi chúng gây khó khăn cho việc nghiên cứu học tập nếu người nghiên cứu học tập không có sự tìm hiểu kỹ lưỡng vể cơ sở lý thuyết của chúng.
Nghị quyết 48- NQ/TW của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 ban hành ngày 24/5/2005 có nhận định tổng quát về hệ thống pháp luật Việt Nam hiện tại rằng: “.nhìn chung hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đổng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống”. Vì thế Nghị quyết đã nói rõ mục tiêu cải cách pháp luật như sau: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghứa, xây dựng Nhà nước pháp quyển xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyển con người, quyển tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”. Như vậy việc nghiên cứu vấn để pháp điển hóa luật thương mại có ý nghĩa rất lớn đối với việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Có hai ngành luật tư điển hình là luật dan sự và luật thương mại.
Nhưng luật dân sự là nến tang day chất lý luận của luật tư. Còn luật thương mại xác định các quyển lợi tư trong lĩnh vực CHUONG 1. KHAI NIEM, CHUC NANG VA NGUYEN TAC. 25 thương mại thúc đẩy và bảo vệ các giao dịch thị trường.
Vì thế đạo luật về thương mại luôn luôn là nền tảng quan trọng của các đạo luật khác liên quan tới sản xuất, kinh doanh, dich vụ. Bộ luật Thương mại về nguyên tắc phải bao quát được các chế định cơ bản của ngành luật thương mại bao gồm: Qui chế thương nhân, công tỉ, sản nghiệp thương mại, mua bán hàng hoá, thương phiếu, bảo hiểm, thuê tài chính, hoạt động ngân hàng, trung gian thương mại, phá sản. Bộ luật Thương mại hay đạo luật cơ bản về thương mại ra đời nhằm xác định và giới hạn các quyền lợi tư trong lĩnh vực thương mại. Do đó nó luôn luôn phải đề cập tới hai vấn đề không thể bỏ qua là quyền lợi tư và chủ thể của quyền lợi tư.
Quyền lợi tư phát sinh từ các giao dịch hay hành vi thương mại. Còn chủ thể quan trọng nhất của các quyền lợi tư tại đây là các thương nhân. Một đạo luật có thể không bao quát toàn bộ các vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của một ngành luật.