Chương 1 (Nghề luật), từ tr. 11 Giáo trình Luật sư và đạo đức nghề luật sư Nghề luật là nghề nghiệp “đặc thù” trong xã hội. Đối tượng tác động của hoạt động nghề luật là con người, tổ chức và nhà nước. Sự tác động này mang tính đa chiều.
Mặt tích cực là bảo vệ và bảo đảm cho quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể được thực thi đúng pháp luật, tôn trọng công lý, lẽ công bằng. Do có đặc thù gắn với “số phận” con người nên nghề luật ẩn chứa những nguy cơ gây tổn hại cho lợi ích vật chất, tinh thần của các chủ thể trong quan hệ pháp luật từ các quyết định tố tụng hoặc các dịch vụ pháp lý mà người hành nghề luật mang lại. Chính vì thế, nghề luật đòi hỏi người hành nghề vừa phải có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, am hiểu sâu rộng về chính trị - kinh tế - xã hội - pháp luật, thành thạo về kỹ năng làm việc, vừa phải có phẩm chất, tố chất phù hợp với nghề và tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc đạo đức - ứng xử nghề nghiệp. Trong nghề luật có những nhóm nghề mà người hành nghề phải được nhà nước bổ nhiệm theo những chức danh tư pháp như người hành nghề Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên, hoặc phải có chức danh bổ trợ tư pháp, như người hành nghề LS, công chứng.
phù hợp với vị trí của từng loại hình công việc liên quan đến pháp luật. Pháp luật Việt Nam cũng như nhiều quốc gia đều có quy định không cho phép một người kiêm nhiệm đồng thời hai chức danh tư pháp khác nhau thuộc nghề luật. Xuất phát từ sứ mệnh, chức năng, nhiệm vụ của từng chức danh tư pháp, nghề luật được phân biệt thành hai nhóm: (1) Nghề luật thuộc hệ thống cơ quan tư pháp, thực thi quyền lực tư pháp nhà nước; (2) Nghề luật ngoài hệ thống cơ quan tư pháp nhà nước, hành nghề theo phương thức tự do. Nghề luật sư (NLS) thuộc nhóm ngoài cơ quan tư pháp và hành nghề tự do.
NLS trong môi trường nhà nước pháp quyền chịu sự tác động sâu sắc của hệ thống chính trị - kinh tế - xã hội của từng quốc gia ở mỗi thời kỳ. Tại Việt Nam, xã hội biết đến sự tồn tại độc lập của NLS nhiều hơn từ sau năm 1945. Qua gần tám thập niên, NLS tại Việt Nam có sự phát triển lớn mạnh toàn diện cả về quy mô, chất lượng và vai trò đóng góp 12 Học viện Tư pháp ngày càng quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước; góp phần tạo ra sự thay đổi tích cực của công cuộc cải cách tư pháp; tạo lập niềm tin của người dân vào công lý; thúc đẩy và tạo động lực phát triển thị trường dịch vụ pháp lý tại Việt Nam, đáp ứng nhu cầu xã hội và hội nhập quốc tế. NLS là một trong số nghề luật mà tổ chức hành nghề và LS hành nghề cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng một cách độc lập và chuyên nghiệp.
Đặc điểm nghề luật sư 1. Đặc điểm chung * Mục đích nghề nghiệp CÂU HỎI PHÙ HỢP VỚI MỤC ĐÍCH NGHỀ NGHIỆP LS? Trở thành Trở thành LS Trở thành LS Trở thành Trở thành LS LS để cứu/ để kiếm tiền/ để có công LS để để được làm bảo vệ con trở nên giàu danh/ được trở thành một nghề cao người? có? nổi tiếng? người lãnh quý trong xã đạo? hội? Câu trả lời trước hết tùy thuộc vào mục tiêu nghề nghiệp riêng của từng cá nhân nhưng vẫn phải tôn trọng mục đích chung của NLS là bảo đảm thực thi chức năng và sứ mệnh nghề nghiệp theo quy định pháp luật về LS, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp LS.1 * Chức năng nghề nghiệp Chức năng nghề nghiệp LS là phạm vi, giới hạn, nội dung công việc phù hợp với vị trí nghề nghiệp LS. Chức năng nghề nghiệp LS là tổng thể gắn bó của các phương diện hoạt động giúp cho việc phân biệt NLS với nhóm nghề luật khác. Quy tắc 1 (Sứ mệnh của luật sư) Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam năm 2019.
13 Giáo trình Luật sư và đạo đức nghề luật sư CÂU HỎI PHÙ HỢP VỀ CHỨC NĂNG NGHỀ NGHIỆP LS? Chức năng Chức năng Chức năng hướng dẫn phản biện trợ giúp LS hướng dẫn ai? LS phản biện ai? LS trợ giúp ai? LS hướng dẫn về điều gì? LS phản biện về LS trợ giúp những gì điều gì? Kết quả của cho xã hội? phản biện? LS hướng dẫn như thế nào? LS phản biện như LS trợ giúp như thế nào? thế nào? Hướng dẫn có thuộc Phản biện có phải Tại sao LS lại phải nghĩa vụ, trách nhiệm nghĩa vụ, trách nhiệm trợ giúp? của LS? của LS? LS có phải chịu trách Kết quả trợ giúp của LS nhiệm pháp lý về việc là gì? hướng dẫn sai, không hướng dẫn? Tổng hợp các câu trả lời cho những câu hỏi nêu trên giúp hình dung tổng thể về hoạt động nghề nghiệp LS. Đây cũng là một trong số căn cứ mà người lựa chọn NLS tự soi chiếu để đánh giá khả năng và mức độ thích hợp của cá nhân về sự lựa chọn NLS làm con đường phát triển sự nghiệp cá nhân. Với tư cách của chủ thể cung cấp dịch vụ pháp lý trong quan hệ giao dịch giữa cá nhân LS với khách hàng thì hoạt động hướng dẫn, phản biện và trợ giúp được xác định là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của bên cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng. Đó là hoạt động hướng dẫn của LS đối với khách hàng về quy định pháp luật cần viện dẫn, sử dụng và tuân thủ; về trình tự, thủ tục, cách thức ứng xử đúng đắn với pháp luật, với cơ quan, tổ chức, nhà nước và các chủ thể liên quan để mang lại hiệu quả tối ưu cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân chủ thể pháp luật.
Song song với hoạt động hướng dẫn, LS cung cấp cho khách hàng ý kiến tư vấn (được hiểu là kết quả của sự nghiên cứu, phân tích, phản biện độc lập của LS) để có phương án có lợi/tốt nhất cho khách hàng. Quá trình hướng dẫn, tư vấn này chính là vừa thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng 14 Học viện Tư pháp dịch vụ pháp lý, vừa là sự trợ giúp hiệu quả, cần thiết thuộc trách nhiệm nghề nghiệp LS. Với tư cách là một nghề độc lập trong xã hội, chức năng hướng dẫn, phản biện và trợ giúp của NLS có những tương đồng nhất định với chức năng xã hội của LS.1 Đối với nghề nghiệp, các chức năng này được phản ánh, thể hiện và chứng minh vai trò, hiệu quả hoạt động thực tiễn mà giới LS đóng góp cho xã hội. Giá trị thực sự của NLS một phần chính là ở năng lực phản biện để xây dựng, phát triển hệ thống pháp luật quốc gia thông qua việc cung cấp các góc tiếp cận đa chiều cho những cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động ban hành, thực thi, tuân thủ pháp luật.
Vai trò hướng dẫn của NLS giúp cách hiểu và hành xử của người dân tuân thủ đúng quy định, trình tự, thủ tục pháp lý khi tiếp cận công lý và hệ thống pháp luật quốc gia, để bảo đảm mọi người dân trong xã hội được thụ hưởng quyền con người, quyền công dân trong điều kiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cùng với hai chức năng hướng dẫn và phản biện, chức năng trợ giúp về pháp lý là sự chia sẻ từ nghề nghiệp và những người làm NLS đối với phần trách nhiệm của nhà nước phải bảo vệ an toàn, an ninh cho người dân trong vận hành và thực thi quyền lực nhà nước ở các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. * Đối tượng nghề nghiệp LS NLS hướng tới cá nhân, tổ chức, kể cả nhà nước để đáp ứng nhu cầu bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật. * Công cụ hành nghề LS Công cụ chính của NLS là hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam; công lý; lẽ công bằng; hệ thống quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp LS Việt Nam.
Ngoài pháp luật và những nguồn điều chỉnh đặc thù của hoạt động tư pháp2, hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của LS còn cần 1 Điều 3 LLS năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012). 2 Nguồn điều chỉnh hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý LS là pháp luật theo nghĩa rộng, bao gồm pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia; tập quán pháp; công lý, lẽ công bằng; Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động nghề nghiệp của LS còn phải tuân thủ nội quy, quy chế của tổ chức xã hội - nghề nghiệp, nơi có chức năng quản lý nội bộ hoạt động hành nghề của LS. 15 Giáo trình Luật sư và đạo đức nghề luật sư đến công cụ lý trí là “tư duy pháp lý”1, công cụ chuyên môn đặc thù của nghề luật nói chung và NLS nói riêng.
Tư duy pháp lý là quá trình, phương pháp, kỹ năng tư duy về tri thức chuyên môn, xã hội và pháp luật nhằm tìm ra và xây dựng những giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề/tình huống/vụ việc phát sinh trong các quan hệ của chủ thể pháp luật. Liên quan đến hoạt động NLS, tư duy pháp lý vừa có đặc thù của tư duy nghề nghiệp chuyên nghiệp về pháp luật, vừa là kết quả của hoạt động tư duy đỉnh cao trong xử lý, giải quyết các công việc thuộc phạm vi, lĩnh vực nghề nghiệp của LS, tuân thủ đầy đủ những quy luật cơ bản của nhận thức luận và tư duy logic hình thức, như quy luật đồng nhất, quy luật không mâu thuẫn, quy luật triệt tam và quy luật lý do đầy đủ.2 * Chủ thể hoạt động nghề nghiệp LS Ở Việt Nam, LS được quan niệm là một dạng chức danh bổ trợ tư pháp dành cho những người đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề; các tổ chức hành nghề cần đáp ứng đủ điều kiện thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về TCHNLS tại Việt Nam, quy chế riêng của tổ chức xã hội nghề nghiệp LS và quy chế tổ chức, hoạt động của từng tổ chức hành nghề.