DIỆP THÀNH NGUYÊN GIÁO TRÌNH LUẬT LAO ĐỘNG CƠ BẢN Ebook.vn, 2007 Giáo trình Luật Lao động cơ bản MỤC LỤC TRANG • Lời giới thiệu .02 • Bài 1: Khái niệm Luật Lao động Việt Nam .03 • Bài 2: Quan hệ pháp luật lao động .14 • Bài 3 : Việc làm và học nghề .21 • Bài 4 : Tuyển dụng lao động .29 • Bài 5: Thỏa ước lao động tập thể .44 • Bài 6: Tiền lương .55 • Bài 7: Thời giờ làm việc - thời giờ nghỉ ngơi .69 • Bài 8: Kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất .80 • Bài 9: An toàn lao động, vệ sinh lao động – Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp .92 • Bài 10: Bảo hiểm xã hội .113 • Bài 11: Lao động đặc thù .134 • Bài 12: Xuất khẩu lao động .143 • Bài 13: Địa vị pháp lý của Công đoàn trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động .167 • Bài 14: Giải quyết tranh chấp lao động .183 • Danh mục tài liệu tham khảo.200 1 Giáo trình Luật Lao động cơ bản LỜI GIỚI THIỆU Pháp luật lao động quy định quyền và nghĩa vụ của người lao động và của người sử dụng lao động, các tiêu chuẩn lao động, các nguyên tắc sử dụng và quản lý lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất, vì vậy có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong hệ thống pháp luật của quốc gia cũng như quốc tế. Pháp luật lao động bảo vệ quyền làm việc, lợi ích và các quyền khác của người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo điều kiện cho mối quan hệ lao động được hài hoà và ổn định, góp phần phát huy trí sáng tạo và tài năng của người lao động trí óc và lao động chân tay, của người quản lý lao động, nhằm đạt năng suất, chất lượng và tiến bộ xã hội trong lao động, sản xuất, dịch vụ, hiệu quả trong sử dụng và quản lý lao động, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Do vị trí đặc biệt quan trọng như thế của pháp luật lao động nên ngành Luật lao động được đặc biệt chú trọng ở hầu hết các nước trên thế giới. Trong chương trình đào tạo Cử nhân Luật học ở tất cả các trường đại học đều có môn học Luật Lao động.
Giáo trình Luật Lao động cơ bản được biên soạn nhằm mục đích phục vụ việc học tập, giảng dạy, và nghiên cứu cho sinh viên, giảng viên, và cán bộ làm công tác liên quan đến lĩnh vực lao động. Trong quá trình biên soạn chắc không tránh khỏi những hạn chế nhất định, rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc. Tác giả Thạc sĩ Diệp Thành Nguyên Giảng viên Khoa Luật – ĐH. Cần Thơ 2 Giáo trình Luật Lao động cơ bản BÀI 1 KHÁI NIỆM LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM I - ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH CỦA LUẬT LAO ĐỘNG 1 - Đối tượng điều chỉnh của luật lao động Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là những nhóm quan hệ xã hội cùng loại có cùng tính chất cơ bản giống nhau được các quy phạm của ngành luật ấy điều chỉnh.
Đối tượng điều chỉnh của Luật lao động là mối quan hệ xã hội phát sinh giữa một bên là người lao động làm công ăn lương với một bên là cá nhân hoặc tổ chức sử dụng, thuê mướn có trả công cho người lao động và các quan hệ khác có liên quan chặt chẽ hoặc phát sinh từ quan hệ lao động. Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Luật lao động bao gồm hai nhóm quan hệ xã hội: - Quan hệ lao động; - Các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động (phát sinh trong quá trình sử dụng lao động). a - Quan hệ lao động Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước.
Lao động là hoạt động có ý thức, có mục đích của con người nhằm tạo ra một giá trị sử dụng nhất định. Nhờ có lao động mà con người tách mình ra khỏi thế giới động vật, đồng thời biết vận dụng quy luật của thiên nhiên để chinh phục lại thiên nhiên. Lao động của con người bao giờ cũng nằm trong một hình thái kinh tế-xã hội nhất định, bởi vì trong quá trình lao động con người không chỉ quan hệ với thiên nhiên mà còn có quan hệ với nhau. Quan hệ giữa con người với con người trong lao động nhằm tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần phục vụ chính bản thân và xã hội gọi là quan hệ lao động.
Quan hệ lao động này là biểu hiện một 3 Giáo trình Luật Lao động cơ bản mặt của quan hệ sản xuất và chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu. Chính vì thế, trong các chế độ xã hội khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của các quan hệ sở hữu thống trị mà có những phương thức tổ chức lao động phù hợp, và ở đâu có tổ chức lao động, có hợp tác và phân công lao động thì ở đó tồn tại quan hệ lao động. Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đã hình thành nhiều quan hệ lao động, các quan hệ lao động này ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, đan xen lẫn nhau. Trong số các quan hệ lao động tồn tại trong đời sống xã hội, Luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động thuộc mọi thành phần kinh tế, tức là Luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động.
Đối với quan hệ lao động hình thành trên cơ sở hợp đồng lao động, pháp luật đặt ra các tiêu chuẩn, chuẩn mực hay khung pháp lý, trong đó quyền lợi của các bên được ấn định ở mức tối thiểu và nghĩa vụ ấn định ở mức tối đa. Các chủ thể khi tham gia quan hệ này hoàn toàn được tự do, bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận các vấn đề liên quan đến quá trình lao động phù hợp với pháp luật và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì thế, Điều 1 Bộ luật Lao động năm 1994 nước ta quy định : “Bộ luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ lao động liên quan trực tiếp với quan hệ lao động”. Đây là loại quan hệ lao động tiêu biểu và cũng là hình thức sử dụng lao động chủ yếu, phổ biến trong nền kinh tế thị trường.
Như vậy, khác với quan hệ lao động làm công ăn lương do Luật lao động điều chỉnh, quan hệ lao động của cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy Nhà nước có những nét đặc trưng khác biệt, vì vậy quan hệ lao động này trước hết do Luật hành chính điều chỉnh. Tuy nhiên, dưới góc độ là một quan hệ sử dụng lao động, Luật lao động cũng điều chỉnh các quan hệ lao động của cán bộ, công chức trong phạm vi phù hợp. Điều 4 Bộ luật lao động quy định: “Chế độ lao động đối với công chức, viên chức Nhà nước, người giữ các chức vụ được bầu, cử hoặc bổ nhiệm, người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân, người thuộc các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội khác và xã viên hợp tác xã do các văn bản pháp luật khác quy định nhưng tùy từng đối tượng mà được áp dụng một số uy định trong Bộ luật này”. b - Các quan hệ liên quan đến quan hệ lao động Ngoài quan hệ lao động làm công ăn lương là quan hệ chủ yếu, Luật lao động còn điều chỉnh một số quan hệ xã hội khác có liên quan chặt chẽ với quan hệ lao động.
Những quan hệ đó bao gồm : 4 Giáo trình Luật Lao động cơ bản - Quan hệ về việc làm - Quan hệ học nghề - Quan hệ về bồi thường thiệt hại - Quan hệ về bảo hiểm xã hội - Quan hệ giữa người sử dụng lao động với tổ chức Công đoàn, đại diện của tập thể người lao động - Quan hệ về giải quyết các tranh chấp lao động và các cuộc đình công - Quan hệ về quản lý lao động. (1) Quan hệ về việc làm Việc làm là vấn đề không thể thiếu khi nói đến quá trình lao động, không có việc làm thì không thể có sự làm việc. Đối với người lao động, việc làm là điều được quan tâm đầu tiên và đồng thời là điều quan tâm suốt cả cuộc đời. Việc làm đầy đủ, việc làm có hiệu quả, việc làm được tự do lựa chọn - ba vấn đề đã được Tổ chức lao động quốc tế đặt ra và mong muốn các quốc gia phải có những nỗ lực để đảm bảo.
Quan hệ về việc làm là quan hệ được xác lập để đảm bảo việc làm cho người lao động. Quan hệ này vừa có tính chất tạo cơ hội, vừa có tác dụng nâng cao khả năng tham gia làm việc ổn định của người lao động, đồng thời để nâng cao chất lượng của việc làm. Quan hệ về việc làm thể hiện ở ba loại chủ yếu sau đây : - Quan hệ về đảm bảo việc làm giữa Nhà nước và người lao động; - Quan hệ về đảm bảo việc làm giữa người sử dụng lao động và người lao động; - Quan hệ giữa người lao động và các trung tâm dịch vụ việc làm. (2) Quan hệ học nghề Trình độ chuyên môn là một yếu tố rất cần thiết cho người lao động, vì nếu không có trình độ chuyên môn thì người lao động sẽ ít có cơ hội tham gia quan hệ lao động, cũng như duy trì và ổn định quan hệ lao động.
Công nghệ ngày nay đã có những bước tiến mạnh mẽ và nhanh chóng, đòi hỏi trình độ chuyên môn của người lao động phải ngày càng được nâng cao. Quan hệ học nghề vì thế vừa có thể là một quan hệ độc lập, vừa có thể là một quan hệ phụ thuộc quan hệ lao động. Việc học nghề phải tuân thủ các quy định của pháp luật lao động.