mở đầu cho sự giao lưu văn hoá Việt Nam với văn hoá phương Tây, đem lại một số biến đổi nhất định đối với văn hoá Việt Nam. Phong tục tập quán Phong tục tập quán là những tập tục, thói quen duy trì trong đời sống xã hội lừ lâu đời. được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo. Tết Nguyên đán Đây là tết quan trọng và lớn nhất trong một năm.
Theo tập quán của người Việt Nam. mọi người dù đi đâu, làm gì, vị trí trong xã hội như thế nào thì hàng năm mỗi khi Tết đến mọi người đều trở về sum họp với gia đình, làng xóm trong 3 ngày tết Ngày 23 tháng Chạp (ngày ông Táo lên trời) người dân nô nức đi chợ tết, làm lễ cúng ông Công, ông Táo. Chợ tết chính là một sinh hoạt văn hoá mang tính cộng đồng, là thước đo sự no ấm của người dân trong năm. Mọi người trong gia đình cùng nhau luộc bánh chưng, bày mâm ngũ quả, trang hoàng nhà cửa.
Ai ai trong lòng cũng phấn khởi đón chờ một năm mới nhiều may mắn và hạnh phúc. * Một số phong tục trong tết Nguyên đán - Lễ trừ tịch: Giao thừa là thời khắc giao thoa giữa năm cũ và năm mới. Lễ trừ tịch diễn ra vào giây phút cuối cùng của năm cũ và cũng là giây phút đầu tiên của năm mới. Lễ trừ tịch còn gọi là lễ giao thừa.
Lễ trừ tịch hàm chứa ý nghĩa: vứt bỏ mọi điều xấu, vận đen năm cũ, chờ đón điều tốt lành, vận may năm mới. Lễ trừ tịch - đêm giao thừa trong mỗi gia đình người Việt bên cạnh ban thờ tổ tiên còn có một mâm đồ cúng trước nhà để tạ thần Thổ công, Táo quân, cầu xin các vị thần phù hộ cho gia đình. Lễ trừ tịch gắn liền với đời sống tâm linh của người Việt Nam. - Tục chúc tết đầu xuân: Ngày tết là dịp mọi người biểu lộ lòng biết ơn, trân trọng những người có công sinh thành, dưỡng dục mình.
Chính vì vậy có câu: “mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”. Người Việt Nam thường có phong tục trong ngày tết, cả gia đình đến chúc tết ông bà, cha mẹ và thầy cô, bạn hữu. Họ cầu chúc cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất, bỏ qua cho nhau mọi sự xích mích, mếch lòng nhau trong năm cũ. Cùng với lời chúc đầu năm mới, người Việt Nam có tục mừng tuổi thể hiện tính cộng đồng cao.
Tiền mừng tuổi được mọi người cất riêng để giữ may mắn, phát tài, phát lộc suốt năm. - Tục dựng cây nêu: Phong tục này đã có từ rất lâu trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam: người Kinh, Mường, Thái, Êđê, Gairai. Ngày nay phong tục này tuy không còn phổ biến nhưng vẫn tồn tại ở một số làng quê. Ngày 30 tết, các gia đình đều tiến hành việc trồng cây nêu trước sân nhà, bằng một cây tre đực cao hơn nóc nhà, trên ngọn nêu treo túm lá dứa, cành đa, lá thiên tuế, một tán tròn bằng tre dán giấy xanh đỏ có tua ngũ sắc treo những chiếc khánh và con cá bằng đất nung.
Mỗi vật treo trên cây nêu đều có ý nghĩa biểu tượng riêng: cái khánh đem phúc đến cho gia đình, cành đa, lá thiên tuế tượng trưng cho điềm lành, tuổi thọ, lá dứa biểu tượng vũ lực ngăn kẻ ác, tán tròn dán giấy đỏ tượng trưng áo cà sa của đức Phật,. Tục dựng cây nêu xuất phát từ một huyền thoại trong dân gian, là biểu tượng văn hoá 12 tâm linh, có ý nghĩa xua đuổi ma quỷ, không cho chúng vào nhà quậy phá. Ngoài ra cây nêu còn có ý nghĩa là cây vũ trụ - nối đất với trời. Ngoài tết Nguyên đán, người Việt Nam còn có tết Nguyên tiêu (rằm tháng giêng), tết Trung nguyên (rằm tháng 7) và tết Hạ nguyên (rằm tháng 10).
Trong ngày tết Hàn thực (ngày 3 tháng 3 âm lịch) các gia đình đều làm bánh trôi, bánh chay để cúng gia tiên; tết Đoan ngọ (ngày 5 tháng 5 âm lịch) đánh dấu vào thời điểm giữa năm với tục "giết sâu bọ". Hôn nhân Hôn nhân của người Việt truyền thống không phải là việc giữa hai người mà là việc quan viên hai họ “dựng vợ, gả chồng” cho con cái. Chính vì vậy mà hôn nhân ở các tầng lớp trẻ thường được cha mẹ hay các bậc bề trên lớn tuổi của dòng họ dàn xếp thông qua người làm mối. Hôn nhân được coi là cách thức linh thiêng để duy trì nòi giống, đáp ứng nhu cầu nhân lực của gia đình trong sản xuất nông nghiệp.
Dân gian có những tiêu chuẩn để chọn con dâu: “Những người thắt đáy lưng Đã khéo chiều chồng lại giỏi nuôi con Những cô béo trục béo tròn Ăn vụng đã lắm đánh con cả ngày” Về việc kén rể cũng cần kén người giỏi giang, có địa vị trong xã hội, đem lại vẻ vang trong gia đình: “Chồng sang vợ được đi hài” hay: “Trai khôn kén vợ chợ đông Gái khôn kén chồng giữa chốn ba quân” Hôn nhân ngoài đáp ứng quyền lợi của hai người còn phải đáp ứng quyền lợi dòng họ, gia đình, làng xã, quyền lợi của quốc gia. * Một số phong tục liên quan đến hôn nhân: + Tục giã cối đón dâu: thể hiện ước mong đông con nhiều cháu + Tục trải chiếu: chọn người trải chiếu cho đôi vợ chồng trẻ để mong cuộc sống hạnh phúc, sớm thêm con thêm cháu. Người được chọn để trải chiếu cho đôi vợ chồng trẻ phải là người có cuộc sống gia đình hạnh phúc và còn đủ cả vợ cả chồng. Người được chọn để trải chiếu phải trải chiếu cho thật ngay ngắn và thật đẹp trước khi cô dâu về nhà chồng.
+ Ăn chung đĩa cơm nếp: gắn bó với nhau cả đời + Uống chung ly rượu: say nhau cả đời +Tục mẹ chồng đem ông bình vôi tạm lánh sang nhà hàng xóm: với ý nhường truyền nội tướng cho con dâu. Tóm lại, phong tục tập quán của người Việt Nam rất phong phú và đa dạng, nó tồn tại trong mọi mặt của đời sống: tập quán ăn uống, tập quán canh tác, hôn nhân, tang ma, lễ tết. Nghệ thuật diễn xướng: - Chèo: Chèo là hình thức sân khấu dân gian Việt Nam kể chuyện bằng trò diễn hề nảy 13 sinh và phát triển từ các hình thức nghệ thuật dân gian của người Việt: các câu ca dao tục ngữ, các điệu dân ca, các trò nhại diễn xướng dân gian, các nghi lễ tôn giáo,. Ngôn ngữ nghệ thuật của chèo là một chỉnh thể phức hợp gồm các yếu tố ca hát, vũ đạo, vũ thuật tạo thành một hình thức biểu diễn độc đáo của người diễn trò kèm theo sự hỗ trợ của một số nhạc cụ dân tộc như trống, mõ, thanh la, kèn, sáo, nhị,.
Nghệ thuật chèo mang những sắc thái riêng chỉ có ở Việt Nam, một phong cách nghệ thuật không thể trộn lẫn. Đó là trong dàn nhạc phụ trợ, có trống đế, đó là một loại trống nhỏ dùng riêng cho chèo. Nó dẫn dắt tiết tấu của trò diễn, tiếng trống đế vang lên khi rộn rã thúc giục, khi nhát một trầm tư kết hợp cùng 1 diễn xuất. Tiếng trống đế đã đi vào câu ca dao quen thuộc: “Ăn no rồi lại nằm khèo Nghe tiếng trống chèo bê bụng đi xem” Nói đến chèo, người ta nghĩ ngay đến nhân vật hề chèo với tiếng cười lúc hồn nhiên, lúc châm biếm chua cay hay độc đáo hơn là tiếng đế: lối bình phẩm tại chỗ, một hình thức liên hệ, giao lưu giữa người xem trò và người diễn trò.
Hát chèo chủ yếu diễn ra ở chốn dân dã, về sau phát triển thành rạp hát và phát triển ra đô thị. Các tích chèo thường được xây dựng theo các truyện dân gian, các chuyện Nôm khuyết danh mà các nhân vật chính phần lớn là nông dân, các thôn nữ, các chàng thư sinh,. Nội dung các tích chèo thường đề cao và ca ngợi những những quan niệm, đạo đức phong kiến như hiếu, nghĩa, lễ, tín,. Thế kỷ XVIII Và đầu thế kỷ XIX là thời kỳ phát triển nhất của chèo cổ, những trò diễn truyền lại cho đến ngày nay chủ yếu ra đời trong thời kỳ này.
Các vở chèo nổi tiếng: Suý Vân giả dại, Thị Màu lên chùa, TuầnTy - đào Huế,. Cũng giống như chèo, tuồng là sự phát triển của nghệ thuật ca vũ và trò diễn dân gian dân tộc. Nghệ thuật biểu diễn tuồng mang tính cách điệu cao với cách nói, cách hát, các động tác được cường điệu hoặc vũ đạo hoá. Các nhân vật tuỳ theo từng đặc trưng cơ bản của tính cách mà hoá trang theo những mô hình mặt nạ riêng biệt cho từng loại người: thư sinh.
Không gian sân khấu thường không có bối cảnh cụ thể mà biến đổi tuỳ theo sự xuất hiện của từng nhân vật. Có hai phong cách tuồng: tuồng truyền thống và tuồng cải cách. Nghệ thuật tuồng phát triển ở cả nông thôn và thành thị, trong đó tuồng truyền thống chủ yếu ở nông thôn còn tuồng cải cách xuất phát từ việc giao lưu với các đoàn kinh kịch ở Trung Quốc nên chủ yếu diễn ra ở thành thị. Từ sau Cách mạng tháng Tám, nghệ thuật tuồng tiếp tục được bảo tồn và phát huy, bên cạnh những tích tuồng cổ được phục hồi và lưu truyền còn xuất hiện nhiều vở tuồng đi vào đề tài hiện đại, gần gũi với cuộc sống đương thời - Cải lương: Là loại hình kịch hát, được hình thành trên cơ sở loại hình đờn ca tài tử ở Nam Bộ.
Cải lương được hình thành từ vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tác giả đầu tiên của loại hình nghệ thuật này là tác giả Trương Duy Toản với vở Lục Vân Tiên được biểu diễn trên sân khấu Thầy Thận tại Sa Đéc năm 1917. Sân khấu cải lương ra đời đúng vào lúc đất nước liên liếp xảy ra những sự kiện chính trị trọng đại do vậy rất nhiều vở cải lương mang nội dung yêu nước, đề cao cách mạng: vở Lê Lợi khởi nghĩa; Tiếng sấm Phú Kinh; Đường về quê ngoại. Ngoài ra còn có những vở cải lương về đề tài hiện đại như Đời cô Lựu.
Nghệ thuật cải lương nhanh chóng phát triền từ Nam ra Bắc, được các nghệ sĩ ở miền 14 Bắc tiếp thu và phát triển. Nghệ thuật cải lương ngay từ khi ra đời đã thích ứng rất nhanh chóng với nhu cầu của công chúng bằng cách khai thác các đề tài khác nhau trên mọi lĩnh vực của đời sống.