mở đầu uù kết thúc của thời kì lịch sử thế giới cận dại. Thục ra, lịch sử phát 4 ye a" nc) triển liên tục mà sự phân kì chỉ có tính chốt quy ưóc, mỗi người theo một quan diểm khúc nhau trong uiệc chọn lựa. Hơn thế nữa, sụ van dộng lịch sử không diễn ra dồng dều trên tất cd cde nước va các khu uực, mốc thời gian phù hợp vdi noi nay lại không thích ứng UớiL nơi khác. Tuy 0uộy, trong khuôn khổ gióo trình dại học, uiệc dịnh mốc phân ki - di chi coi như quy ước - uỗn là diều cồn thiết.
Nồm trong toàn b6 qué trinh lich sit tit c6 dén kim, thoi ki can dai xen uờo giữa nên phdi nhét quan vdi phần giáo trình truóc nó lò lịch sử cổ trung dại Uuòờ sau nó là lịch sử hiện dại. Do uộậy, trong gióo trình này, lịch sử thế giói cận dợi dược bốt đầu từ cuộc cách mọạng từ sản Anh giita thé ki XVII, kết thúc bởi cuộc cách mạng XHCN thóng Mười Nga uờ Chiến tranh thế giói lần thứ nhất dầu thế kỉ XX. Ngay trong thời hì cận đại cũng khó có dược một sự phân dịnh rõ rệt thống nhất chung cho cd phương Ty uà phương Đông. Cho nên, để tiện cho uiệc học tộp của anh chị em sinh uiên, chúng tôi chia giúo trình này thành 2 phần : Phần một : Lịch sử thế giói cện dại phương TWy.
Phần hai : Lịch sử thế giói cận dai phuong Dong. Lich su thế giỏi diễn biến theo một thể thống nhốt, có mốt liên hệ khðng khít giữa các quốc gio, cóc khu vuc va cdc chéu luc. Céc bài giảng nên gợi mỏ cho sinh uiên suy nghỉ trên bình diện tổng quát uờ phôn tích tác dộng qua lại giữa cóc sự kiện nhằm khóc phục những hạn chế của sự phân chỉa tách bạch tạo nên. * * * Giáo trình lịch sử thế giới can dai dé duoc sit dung trong nhiéu nam dé giảng dạy ỏ Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là trường Dai học Khoa học xõ hội uàờ nhân uần — Đại học Quốc gia Hà Nội uờ một số trường dại học khóc.
Ý kiến của cóc gióo sư, cóc bạn đồng nghiệp cũng như nhiều câu hỏi của sinh uiên đã gợi mở cho chúng tôi những diều cồn bổ sung, sửa chữa cho mỗi lồn xuốt bản. Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả cóc bạn dọc đã sử dung va góp ý cho cuốn sóch này. Chúng tôi luôn chờ mong va dén nhộn cóc ý biến dóng góp cho cuốn sóch ngày một hoàn chỉnh. CAC TAC GIA PHAN MOT LICH SU THE GIGI CAN DAI PHUONG TAY tớ, ® Pre Chương Ï CÁCH MẠNG TƯ SẢN ANH GIÚA THẾ KỈ XVII Cuộc cách mạng tư sản Anh giữa thế kỉ XVII là một trận tấn công vào thành trì của chế độ cũ để xây dựng chế độ xã hội mới, lật đổ quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, mở đường cho sức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển.
Cách mạng Anh là cuộc cách mạng tư sản thứ hai trên thế giới sau cách mạng Hà Lan thế kỉ XVI, nhưng lại là cuộc cách mạng đầu tiên có ý nghĩa lớn đối với quá trình hình thành CNTP trên phạm vi toàn châu Âu và thế giới. I- NƯỚC ANH ĐÊM TRƯỚC CỦA CUỘC CÁCH MẠNG 1. Những tiền đề kinh tế của cuộc cách mạng Sư phát triển công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa Từ thế kỉ XVI, các ngành công nghiệp ở Anh phát triển mạnh. Những phát minh mới về kỉ thuật, nhất là những hình thức tổ chức mới trong lao động đã làm cho năng suất lao động ngày càng tăng.
Việc áp dụng máy bơm hơi nước từ các hầm mô lên, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp khai mỏ. Trong khoảng 100 năm (1551-1651) xố lượng than khai thác tăng lên 14 lần, mỗi năm dạt 3 triệu tấn. Đến gitta thé ki XVII, Anh sadn xudt 4/5 san lượng than đá toàn châu Au. Cũng trong thời gian đó, việc khai thác quặng sắt tăng hai lần, kẽm, đồng chỉ muối tăng lên 6-8 lần.
Việc dùng ống bễ thổi đã thúc đấy nghề nấu sắt. Đầu thế kl XVII, ở Anh có 800 lò, mỗi tuần sản xuất tù 3 đến 4 tấn. Nghề đóng tầu, sản xuất đồ gốm và kim khí cũng đạt được nhiều thành tựu lớn. Đáng chú ý nhất là nghề đệt len dạ.
Đó là một ngành sản xuất lâu đời ở Anh và đến thế kỉ XVII đã lan rộng khắp toàn quốc. Một người nước ngoài hồi đó phải thừa nhận rằng "Khắp cả vương quốc từ các thành phố nhỏ cho đến nông thôn và ấp trại đều làm len dạ". Giữa thế kỉ XVI, số lượng len bán ra ngoài chiếm 80% toàn bộ hàng hóa xuất khẩu của nước Anh. Năm 1614, việc xuất cảng len nguyên sơ bị cấm.
Nhờ đó, công nghiệp chế biến len tăng lên mạnh mẽ và nước Anh trở thành nước cung cấp hàng hóa bằng len cho các thị trường bên ngoài. Bên cạnh các ngành công nghiệp cũ đã xuất hiện những ngành sản xuất mới : bông, giấy, tơ lụa, thủy tỉnh, xà phòng. Thương nghiệp Anh cũng đạt nhiều thành tựu to lớn. Thị trường dân tộc được hình thành và các cơ sở kinh doanh của người nước ngoài dần dần bị suy sụp.
Thương nhân Anh mở rộng buôn bán với thị trường thế giới, thành lập những công ti thương mại hoạt động từ Ban Tích đến châu Phi, từ Trung Quốc đến chau Mi. Các công t!¡ lớn nổi tiếng là : "Công tỉ châu Phí" (1553) buôn vàng, ngà voi và nô lé da den ; "Công ti Matxcova" budn bán dọc sông Vônga để đi vào Ba Tư và Ấn Độ ; "Công tì Phương Đông" (1379) liên lạc với các nước ven biến Ban Tích, Na Uy, Thuy Dién. "Céng tÌ Tây Ban Nha" (1577) "Công tỉ Thổ Nhỉ Kỳ (1581). Đến năm 1600, "Công tỉ Đông An Độ" được thành lập, đặt nhiều thương điểm ở Xurat Madrai Bengan (Ấn Độ), cạnh tranh kịch liệt với thương nhân Hà Lan và Pháp.
Trung tâm mậu dịch và tài chính lớn của nước Anh là khu Xity (Luân Đôn). Năm 1568, Sở giao dịch được thành lập, có ảnh hưởng không những ở Anh mà cả ở châu Âu nữa. Đến thời kì cách mạng, sự lưu thông về ngoại thương tăng lén gấp hai lần so với đầu thế ki XVII. Su phát triển của ngoại thương đã thúc đẩy nhanh sự thay đổi công nghiệp.
Các ngành công nghiệp, thương nghiệp, hàng hải. phát đạt tới mức độ chưa từng có, tạo nên những yếu tố cách mạng trong lòng xã hội phong kiến đang tan rã. Quan hệ sản xuất mới dần dần hình thành. Ở nước Anh đã có những công trường tập trung với hàng trăm, hàng ngàn người lao động làm thuê.
Nhưng hình thức phổ biến nhất khi đó vẫn là những công trường thủ công phân tán. Gặp nhiều khó khăn trong khi phát triển kinh doanh ở các thành phố là nơi mà chế độ phường hội còn thống trị, các chủ xưởng thường chuyển hướng về nông thôn. Họ phần nhiều là chủ công trường thủ công kiêm chủ bao mua. Họ chuyên bán nguyên liệu cho những người sản xuất hàng hóa nhỏ, phân phối vật liệu cho các gia đình chế tạo rồi thu mua từng phần hoặc mua cả sản phẩm.
Như vậy, những người thợ thủ công vẫn ở ngay nhà mình, rải rác trong các thôn xớm nhưng bị lệ thuộc vào nhà tư bản. Còn về phía chủ thì chỉ cần lập nên một xưởng nhỏ để lắp hoặc sửa sang lần cuối cùng thứ hàng sắp đem bán. Thường thường việc bán nguyên liệu và mua sản phẩm xen lẫn với việc cho vay nặng lãi làm cho đời sống của thợ thủ công càng 10 thêm bị đát, ngày làm việc kéo dài, lương hạ thấp, bị phá sản và trở thành công nhân làm thuê. Đồng thời, những người sản xuất hàng hóa nhỏ độc lập vẫn còn giữ một vai trò khá lớn.
Sự phát triển công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa làm thay đổi bộ mặt của nước Anh. Nhiều thành phố lớn mọc lên. Luân Đôn trở thành trung tâm công thương nghiệp quan trọng nhất, có 20 vạn dân. Tuy nhiên, nước Anh vào nửa thế kỉ XVII vẫn còn thua kém Hà Lan về các mặt công nghiệp, thương nghiệp và hàng hải, luôn luôn gặp phải su kinh dich của các thuyền buôn Hà Lan.
Tình trạng nông nghiệp và sư xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào nông thân Mặc dầu đã cố một số thành tựu về công thương nghiệp, nước Anh đầu thế kỉ XVII vẫn còn là một nước nông nghiệp. Trong số 5 triệu rưỡi cư dân, chỉ có 1/5 ở thành thị, còn 4/5 vẫn ở nông thôn. Quan hệ sản xuất phong kiến thống trị rất lâu đời trong nông thôn. Ruộng đất là tài sản của quý tộc địa chủ.
Nông dân cày cấy ruộng đất phải nộp tô cho địa chủ theo kì hạn và theo mức quy định vinh viễn. Nông dân không được tự ý bán hoặc trao đổi phần đất của mình mà chỉ truyền lại cho con cháu sau khi đã nộp tô kế thừa và được địa chủ cho phép. Ngay cả những nông dân khá giả tuy có một phân đất đai riêng, cũng vẫn phải nộp tô đại dịch cho địa chủ. Về thân phận, mặc dầu được tuyên bố tự do, chế độ nông nô đã bãi bỏ, nhưng địa chủ vẫn có quyền xét xử và quyền quản lí vẽ hành chính đối với những người sống trong trang viên, lãnh địa của họ.
Ngoài phần đất của địa chủ và nông dân chiếm làm tư hữu, còn cố phần ruộng đất công xã như đất hoang, rừng rú và đồng cỏ. Tất cả mọi người đều được sử dụng đất công xã để chăn nuôi. Những nông dân nghèo khổ cũng phải sống nhờ vào phan đất của công xã. Tuy nhiên do sự phát triển của công nghiệp len dạ ngày càng mạnh, nên nghề nuôi cừu trở thành nghề có lợi nhất.
Địa chủ không thỏa mãn với địa tô thu được của nông dân nên đều tăng nguồn thu nhập riêng bằng cách tước đoạt ruộng đất mà nông dân đang cày cấy, rào ruộng đất riêng và cả một phần ruộng đất của công xã, biến thành đồng cỏ chăn cừu và cấm súc vật của nông dân vào. Nông dân không có chỗ trồng trọt và chăn nuôi, bị đuổi hàng loạt ra khỏi ruộng đất, sống cuộc đời vô cùng khổ cực. Hồi thế ki XVI, TÐmát Morơ đã tả lại cánh đó như sau : "Những con cửu xưa kia ngoan ngoãn hiền hậu biết bao, bây giờ đều trở thành những con vật hung hãn, tham lam. Cừu ăn thịt người, phá hoại ruộng vườn, nhà cửa và thành thị".