Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở MIỀN BẮC - THÀNH TỰU VÀ KINH NGHIỆM 1. Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc 1. Đặc điểm miền Bắc bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc tiến hành trong hoàn cảnh đất nước tạm thời bị chia làm hai miền, mỗi miền có chế độ chính trị, xã hội khác nhau. Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954) miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về cơ bản đã hoàn thành, bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp vào xâm lược miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Tính chất xã hội miền Nam vẫn là thuộc địa nửa phong kiến, nhiệm vụ cách mạng cơ bản chưa thay đổi. Từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chiến tranh tàn phá nặng nề, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đồng thời miền Bắc còn phải thường xuyên đối phó với chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Đây là đặc điểm lớn nhất của miền Bắc khi bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội trong tình hình thế giới có nhiều thuận lợi và cũng không ít những khó khăn, phức tạp. Cách mạng thế giới ở thế chiến lược tiến công. Ba dòng thác cách mạng thế giới phát triển mạnh mẽ đang tấn công vào dinh luỹ của chủ nghĩa đế quốc do đế quốc Mỹ đứng đầu. Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc Từ tháng 7 năm 1954 đến tháng 9 năm 1960, trong quá trình lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Đảng ta đã tích lũy được những kinh nghiệm bước đầu, từng bước xác lập nội dung cơ bản về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9.1960) đã phân tích những đặc điểm cơ bản của miền Bắc khi bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định đường lối chung cách mạng Việt Nam trong giai 5 đoạn mới, đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là: “Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn, truyền thống đấu tranh anh dũng và lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em do Liên Xô đứng đầu, để đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới. Muốn đạt mục tiêu đó, phải sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản chủ nghĩa tư doanh; phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học tiên tiến”1. Đường lối đó bao gồm những nội dung chủ yếu sau: Về mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc: xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà; góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới.
Con đường để đạt mục tiêu trên là: sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản, để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới; phát triển thành phần kinh tế quốc doanh, thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hoá và kĩ thuật, để biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa, khoa học tiên tiến. 1 Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ của Đảng Lao động Việt Nam, Văn kiện đại hội, Tập 1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, xuất bản 9-1960, tr 179-180. 6 Về nhịp độ và bước đi của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là: tiến nhanh , tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội xác định cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có vị trí quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng nước ta, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà.
Đại hội đã đề ra nhiệm vụ, phương hướng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965), nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Thực chất đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc do Đại hội lần thứ III của Đảng xác định là đường lối tiến hành cách mạng về quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất, về xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, nhằm tạo ra một hình thái kinh tế - xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Những tư tưởng cơ bản của đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc còn được Đảng ta tiếp tục bổ sung, phát triển trong những năm tiếp theo. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 19 (1-1971) nhấn mạnh: phải nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng (cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng kĩ thuật và cách mạng tư tưởng, văn hoá); khẳng định thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội là lâu dài phải trải qua nhiều bước quá độ nhỏ mà miền Bắc đang ở bước đi ban đầu của thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội; kết hợp chặt chẽ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Đảng chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc từ 1954 đến 1975 1. Thời kì khôi phục, cải tạo kinh tế (1954-1957) Từ tháng 7-1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng quyết định đưa miền Bắc bước vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong ba năm đầu (1955 - 1957), Đảng chủ trương khôi phục kinh tế sau chiến tranh và hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Hội nghị Bộ chính trị tháng 9/1954 chỉ rõ: nhiệm vụ to lớn là hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế quốc dân, giảm bớt những khó khăn về đời sống cho nhân dân, phát triển kinh tế có kế hoạch và làm từng bước; mở rộng giao lưu kinh tế giữa thành thị và nông thôn.
Đến tháng 8 - 1955, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra kế hoạch 3 năm khôi 7 phục và phát triển kinh tế-văn hoá (1955-1957). Phương châm chỉ đạo: khôi phục là chính, đồng thời phát triển trong phạm vi cần thiết và có thể được; trọng tâm là khôi phục nông nghiệp, dựa trên cơ sở khôi phục nông nghiệp mà khôi phục các ngành khác. Phấn đấu sau 3 năm khôi phục đạt và vượt mức sản xuất trước chiến tranh (năm 1939). Trong nông nghiệp, trọng tâm là giải quyết lương thực.
Trong công nghiệp, chú trọng tiểu thủ công nghiệp, đồng thời tăng cường các xí nghiệp quốc doanh, xây dựng một số cơ sở mới về công nghiệp một cách vững chắc phục vụ sản xuất, dân sinh và quốc phòng. Thực hiện chủ trương của Đảng trong sản xuất nông nghiệp, giai cấp nông dân phấn khởi phục hoá, khai hoang, làm thuỷ lợi, đẩy mạnh sản xuất tăng nhanh sản lượng lương thực. Đến năm 1957, sản lượng lương thực ở miền Bắc vượt mức trước chiến tranh 2,4 triệu tấn. Trong thời kì này, Đảng còn chỉ đạo xây dựng thí điểm 44 hợp tác xã và 8 vạn tổ đổi công.
Về sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, được sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, miền Bắc vừa khôi phục xí nghiệp cũ vừa xây dựng thêm một số xí nghiệp mới. Hầu hết các cơ sở công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp quan trọng đi vào hoạt động có hiệu quả, giai cấp công nhân phấn khởi làm chủ cơ sở sản xuất. Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc được hình thành; giao thông vận tải được khôi phục và phát triển; văn hoá, giáo dục, y tế phát triển nhanh chóng. Đồng thời, Đảng chú ý bồi dưỡng, giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ.
Hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở được xây dựng và củng cố. Công tác xây dựng Đảng được chú trọng, Nhà nước dân chủ nhân dân được tăng cường làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản. Khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trận được củng cố. Khuynh hướng tư tưởng tư sản và các tư tưởng văn hoá lạc hậu bị đánh bại, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Về thực hiện nhiệm vụ cải cách ruộng đất, từ năm 1953 khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến giai đoạn quyết định, Đảng đã chủ trương phát động quần chúng triệt để giảm tô và cải cách ruộng đất. Trong hai năm 1954 - 1956, cải cách ruộng đất ở miền Bắc được tiếp tục tiến hành với 4 đợt (từ đợt 2 đến đợt 5) trên phạm vi 3. Qua 5 đợt cải cách ruộng đất, Hội nghị lần 8 thứ 10 (từ ngày 25 - 8 đến 18 - 10 - 1956) và Hội nghị lần thứ 14 (11-1958) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ: thắng lợi của cải cách ruộng đất là thắng lợi to lớn và căn bản. Toàn bộ giai cấp địa chủ, phong kiến, đối tượng của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân bị đánh đổ, 81 vạn ruộng đất, nhiều trâu bò, nông cụ chia cho hơn 2 triệu hộ nông dân.