Mở Đầu CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN Mục tiêu: - Phân biệt được các nước theo trình độ phát triển. Tóm tắt những đặc trưng chung của các nước đang phát triển. Giải thích sự cần thiết phải lựa chọn con đường phát triển. - Thu thập các chỉ tiêu để so sánh mức độ phát triển của nhóm các nước công nghiệp phát triển, các nước công nghiệp mới, các nước xuất khẩu dầu mỏ và các nước đang phát triển.
- Nghiêm túc trung nghiên cứu Nội dung: 1. Sự phân chia các nước theo trình độ phát triển 1. Sự xuất hiện thế giới thứ 3 Cho tới 1945, nhiều nước ở Tây Âu, nhất là Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ,…còn kiểm soát những thuộc địa rộng lớn. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước ở Châu Á châu Phi, Mỹ La tinh giành được độc lập dân tộc, có những cố gắng trong phát triển kinh tế, với đường lối “độc lập tự chủ” nhằm giảm bớt sức ép từ các nước phát triển vốn đã từng là “chính quốc” của họ.
Các nước này được gọi là “thế giới thứ ba”. Cách gọi này nhằm phân biệt với “thế giới thứ nhất” là các nước có nền kinh tế phát triển, phần lớn là các nước ở Tây Âu, “thế giới thứ hai” là các nước có nền kinh tế tương đối phát triển, tập trung ở Đông Âu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Để tránh rơi vào vòng ảnh hưởng của khối này hay khối kia, nhiều nước trong thế giới thứ ba đã liên kết lại với nhau dưới nhiều hình thức. Tháng 4-1955, tại Indonexia đã diễn ra Hội nghị Bandung, thành lập Phong trào ” Không liên kết”.
Những người tham gia Hội nghị khẳng định quyết tâm xây dựng quan hệ quốc tế mới, ưu tiên giúp đỡ cho các quốc gia nghèo, xây dựng trật tự kinh tế bình đẳng. Năm 1964 lần đầu tiên đã diễn ra hội nghị liên hợp quốc về thương mại và phát triển với mục tiêu đưa thương mại quốc tế thúc đẩy các quốc gia nghèo phát triển. Việt Nam là một trong số các nước sáng lập Phong trào Không liên kết. 6 Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đã tham gia Hội nghị Bandung.
Phong trào này những nắm 1970 hoạt động rất sôi nổi, tạo những áp lực với các nước phát triển trong việc xây dựng trật tự mới của kinh tế Thế giới,… 1. Phân chia các nước theo trình độ phát triển kinh tế Có 4 nhóm nước trên thế giới được phân loại theo mức thu nhập bình quân đầu người (GNI/ người), trình độ cơ cấu kinh tế và mức độ thoả mãn nhu cầu của con người - Nhóm 1 : Các nước công nghiệp phát triển, có khoảng trên 40 nước gồm 7 nước công nghiệp đứng đầu thế giới (nhóm G7và các nước công nghiệp phát triển khác). Có mức thu nhập GNI/người trên 15000 USD/người - Nhóm 2: Các nước công nghiệp mới NIC Có khoảng trên 10 nước có mức thu nhập BQ đầu người đạt trên 6000 USD/người. Trong đó có “4 con rồng” châu Á gồm Hồng kông, Đài Loan, Singapo, Hàn quốc - Nhóm 3: Các nước xuất khẩu dầu mỏ - Nhóm 4: Các nước đang phát triển, đây là những nước đi lên từ Thế giới thứ 3, các nước có nền công nghiệp lạc hậu hoặc các nước nông công nghiệp đang từ sản xuất nhỏ tiền lên con đường công nghiệp hoá.
Các nước này được chia làm 3 loại: Những nước có thu nhập trung bình trên 2000 USD/ người, 600 USD/người và dười 600 USD/người. 7 Các chỉ tiêu, Các nước công Các nước mới công Các nước đang phát thông số để phân nghiệp phát triển nghiệp hóa NICs triển LDCs loại DCs 1- Giai đoạn kinh - Đã công nghiệp hóa, - Đã công nghiệp hóa - Đang hoặc chưa công tế đi vào giai đoạn trưởng trongthời kỳ đặc biệt nghiệp hòa, đang ở giai thành những nắm1960-1980, đoạn cất cánh hoặc đang ở giai đầu của trước cất cánh trưởng thành về kinh tế 2-Thu nhập bình - Trên 10.000USD - Bao gồm ba nhóm: quân/người/năm * Thu nhập bình quân trong khoảng 2.000USD *Thu nhập bình quân từ 600-2000USD *Thu nhập bình quân dưới 600USD 3-Về cơ cấu kinh - Định hình và chuyển - Định hình và chuyển - Đang trong quá trình tế kỹ thuật dịch nhanh theo các lợi dịch nhanh theo các lợi điều chỉnh cơ cấu kinh thế. tế kỹ thuật. - Kỹ thuật hiện đại.
- Kỹ thuật hiện đại, có - Độ chuyển dịch nhỏ - Cơ cấu ngành chuyển sự kết hợp thích dụng - Cơ cấu ngành đang dịch theo hướng dịch các loại hình kỹ thuật. trong thời kỳ nông vụ-công nghiệp-nông - Cơ cấu ngành chuyển nghiệp- công nghiệp- nghiệp. dịch theo hướng công dịch vụ. -Tỷ trọng xuất khẩu nghiệp- dịch vụ-nông chiếm ưu thế trong nghiệp GDP 4-Về mặt thể chế - Các truyền thống, tập - Các truyền thống, tập - Nhiều truyền thống tục lạc hậu suy giảm tục lạc hậu suy giảm tập tục lạc hậu đang đè nhanh.
nặng, thậm chí quyết định sự phát triển. - Hệ thống quản lý - Đã và đang tìm cách - Đang tìm cách nối kết hoàn thiện theo sự tiến nối kết các quan hệ kinh các quan hệ kinh tế-thể bộ của môi trường tế-thể chế với các nước chế với các nước phát kinh tế phát triển và đang phát triển và đang phát triển - Đã thiết lập mạng các triển -Đang trong quá trình quan hệ kinh tế-thể chế xây dựng, hoàn thiện hệ với bên ngoài, hoạt thống các công cụ quản động có hiệu quả lý. Bảng 1: Phân loại các nước theo trình độ phát triển 2. Những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển 2.
Sự khác biệt giữa các nước đang phát triển - Quy mô của đất nước: Quy mô về diện tích và dân số. - Bối cảnh lịch sử: Nguồn gốc lịch sử khác nhau của các nước đang phát triển cũng tác động đến những xu hướng khác nhau trong quá trình phát triển. Cơ cấu kinh tế cũng như nền tảng giáo dục và xã hội thông thường đều dựa vào mô hình của những nước đã từng cai trị họ trước đây. 8 - Vai trò của khu vực nhà nước và khu vực tư nhân: ở hầu hết các nước đang PT đều song song tồn tại khu vực kinh tế nhà nước và tư nhân.
tuy vậy xác định tầm quan trọng tương đối giữa hai khu vực này tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế chính trị của mỗi nước. Những đặc điểm chung của các nước đang phát triển - Mức sống thấp : Mức sống thấp được biểu thị cả về số lượng và chất lượng dười dạng thu nhập thấp, thiếu nhà ở, sức khoẻ kém không được hoặc ít được học hành, tỷ lệ trẻ sơ sinh bị tử vong cao, tuổi thọ và thâm niên lao động không cao. - Năng suất thấp: Thiếu vật chất và đội ngũ quản lý có kinh nghiệm. - Tốc độ tăng dân số cao và gánh nặng người ăn theo.
- Mức thất nghiệp và bán thất nghiệp cao - Phụ thuộc đáng kể vào SX nông nghiệp và xuất khẩu hàng sơ chế. - Ngoài ra các nước đang PT còn có một điểm chung về sự thống trị sự phụ thuộc và tính dễ bị tổn thương. Thu nhập thấp Năng suất thấp Tỷ lệ tích lũy nhỏ Trình độ kỹ thuật lạc hậu Hình 1: Vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ 2. Sự cần thiết lựa chọn con đường phát triển Những đặc trưng cơ bản của các nước đang phát triển chính là những trở ngại đối với sự phát triển chúng có liên quan chặt chẽ với nhau tạo ra vòng luẩn quẩn của sự nghèo khổ, làm cho khoảng cách giữa các nước phát triển và đang phát triển ngày càng gia tăng.
Đứng trước tình hình đó đòi hỏi các nước đang phát triển phải có biện pháp để phá vỡ vòng luẩn quẩn. Tuy vậy, trong quá trình tìm kiếm con đường phát triển, các nước đã sử dụng nhiều cách đi khác nhau, nội dung trọng tâm của quá trình lựa chọn và hình thành mô hình phát triển của mỗi nước là quan điểm giải quyết mối quan hệ giữa mặt kinh tế (tăng trưởng) và mặt xã hội (tiến bộ và công bằng xã hội) trong quá 9 trình phát triển. Nhiều nước, quá trình lựa chọn con đường phát triển đã đồng nhất một cách ngây thơ giữa phát triển kinh tể với tăng trưởng kinh tể, và tìm mọi cách để giải quyết bài toán tăng trưởng kinh tế nhanh. Có những nước thì lại qua nhấn mạnh đen giải quyết công băng xã hội và xem đó là tất cả những gì gọi là phát triển v.v… Các nghiên cứu thực nghiệm cũng đã đúc kết thành ba mô hình cụ thể, mỗi mô hình có những đặc trung riêng, và có những kết cục tất yếu của nó.
TỔNG QUAN VỀ SỰ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI Mã chương: 3401 Mục tiêu: - Phân biệt được các khái niệm về tăng trưởng, phát triển kinh tế và phát triển bền vững. Giải thích được mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội. Phân tích các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế. - Tính toán được các chỉ tiêu đánh giá sự tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội.
- Tuân thủ đường lối và chính sách phát triển kinh tế -xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Bản chất của tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế XH 1. Khái niệm về tăng trưởng phát triển kinh tế và phát triển bền vững a. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm).
Sự gia tăng đó được thể hiện cả quy mô và tốc độ. - Thu nhập của nền kinh tế có thể biểu hiện dưới dạng vật chất hoặc giá trị. Thu nhập bằng giá trị phản ánh qua các chỉ tiêu GDP, GNI và được tính cho toàn bộ nền kinh tế hoặc tính bình quân đầu người. GDP tổng sản phẩm nội địa, tức tổng sản phẩm quốc nội hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ nhất định (thường là quốc gia) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
GNI Thu nhập quốc dân (Gross national income – GNI) là chỉ số kinh tế xác định tổng thu nhập của một quốc gia trong một thời gian, thường là một năm. Đây là chỉ tiêu đo thực lực của quốc gia. Thu nhập quốc dân tương tự như Tổng sản lượng quốc gia – GNP, chỉ khác biệt ở chỗ GNP không trừ đi thuế gián thu và khấu hao.