CHUONG 4 LANH DAO VA QUAN LY SU THAY BOI 4. NHUNG VAN DE CO BAN VE LANH BAO 4. Khái niệm “lãnh đạo” Lãnh đạo là khả năng gây ảnh hưởng và truyền cảm hứng nhằm nâng tầm nhìn của con người lên mức cao hơn, đưa việc thực hiện công việc đạt tới một tiêu chuẩn cao hơn, và phát triển tính cách của con người vượt qua những giới hạn thông thường. Nội dung của lãnh đạo Khi nói đến lãnh đạo là đề cập tới ba nội dung chính: (1) khả năng hiểu được con người với những động cơ thúc đây khác nhau ở những thời gian khác nhau và trong những hoàn cảnh khác nhau.
(2) khả năng khích lệ, lôi cuốn. (3) khả năng thiết kế và duy trì môi trường để thực hiện nhiệm vụ. Nội dung thứ nhất đòi hỏi một mặt phải biết lý thuyết về động cơ thúc đẩy, các loại động cơ thúc đây, và bản chất của hệ thống động cơ thúc đây; mặt khác cần có khả năng áp dụng kiến thức đó đối với con người trong các tình huống. Điều này ít nhất cũng giúp người quản lý Lone aa Gido trinh KHOA HOC QUAN LY + 160 hay người lãnh đạo có nhận thức tốt hơn về bản chất và sức mạnh của các nhu cầu của con người, có khả năng hơn để xác định và dự kiến các phương pháp thỏa mãn chúng sao cho có được những hưởng ứng từ đôi tượng bị lãnh đạo.
Nói cách khác yếu tố thứ nhất giúp người lãnh đạo trả lời câu hỏi: vì sao con người hành động? cái gì khiến họ hành động một cách tự nguyện và nhiệt tình? Nội dung thứ hai của sự lãnh đạo là khả năng khích lệ những người đi theo phát huy toàn bộ năng lực của họ cho một nhiệm vụ hay mục tiêu. Nếu như việc sử dụng các động cơ thúc đẩy hầu như chỉ tập trung vào cấp dưới và các nhu cầu của họ, thì sự khích lệ xuất phát từ những người đứng đầu nhóm. Họ có thể có sức hấp dẫn và sức cuốn hút để tạo ra lòng trung thành, sự tận tâm và một ước muốn mạnh mẽ từ phía những người đi theo đẻ thúc đây những gì mà các nhà lãnh đạo muốn. Yếu tố khích lệ rất hiệu quả trong những tình huống khó khăn, khi những người đi theo cảm thấy it hi vọng và hoảng sợ, chẳng hạn như một quốc gia bắt ngờ trước một cuộc chiến tranh, một doanh nghiệp thất bại và có nguy cơ phá sản.
Đó là giá trị của sự lôi cuốn cá nhân. Nội dung thứ ba của sự lãnh đạo liên quan đến phong cách, hành vi của người lãnh đạo và bầu không khí mà họ tạo ra. Cải thiện mối quan hệ giữa các cá nhân, xây dựng hệ thống thành một tập thể đoàn kết, vững mạnh và dẫn dắt tập thể hoàn thành mục đích và mục tiêu, đó là một nhiệm vụ quan trọng của nhà quản lý. Điều này phụ thuộc vào phong cách và hành vi của người lãnh đạo và có ảnh hưởng đến động cơ thúc đây, từ đó ảnh hưởng đến kết quả làm việc của cá nhân cũng như hệ thống.
Lãnh đạo là khoa học và nghệ thuật Là một khoa học, lãnh đạo dựa trên hệ thống tri thức khoa học, mà cụ thê, dựa trên việc hiểu biết và vận dụng các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội, kinh tế, công nghệ và tâm lý con người. Cụ thê hơn nữa, lãnh đạo dựa trên một hệ thống tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn đã được tổng kết, đúc kế thành những nguyên tắc, những định luật. & gs ee 161 Chương 4. LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI er Tos Peo Là nghệ thuật, lãnh đạo là sự khéo léo của người quản lý vận dụng hà các tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn vào việc xử lý các tình ey A huống quản lý thực tế phù hợp với những điều kiện cụ thể, tuỳ lúc, tuỳ nơi, tuỳ đối tượng, tuỳ hoàn cảnh.
Nghệ thuật quản lý đơn vị, tổ chức là sự khéo léo của người quản lý sắp xếp, sử dụng tất cả các nguồn lực có được của đơn vị, tô chức đó dé đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Kỹ năng lãnh đạo Kỹ năng lãnh đạo có thê chia làm năm loại sau: - Kỹ năng tư duy tức là khả năng vận dụng kiến thức sẵn có, suy nghĩ phân tích, so sánh, đánh giá chính xác tình hình thực tế, từ đó đưa ra các quyết định chính xác nhằm điều hành tổ chức đi đến thành công, kỹ năng này phụ thuộc nhiều vào đặc điểm tâm lý và trình độ học vấn của cán bộ lãnh đạo. - Kỹ năng lãnh đạo trực tiếp là kỹ năng làm việc với con người trong nội bộ tổ chức và bên ngoài tổ chức. - Kỹ năng ủy quyền là khả năng cho phép người dưới quyền được phép ra quyết định và chịu trách nhiệm về các quyết định đó.
- Kỹ năng xây dựng hệ thống là khả năng nắm bắt chức năng nhiệm vụ của tổ chức, từ đó hình thành chiến lược phát triển hệ thống trong tương lai và biết cách xây dựng bộ máy cùng với cơ chế hoạt động của hệ thống, nhằm thực hiện được mục tiêu của hệ thống đặt ra trong một khoảng thời gian, không gian nhất định. - Kỹ năng nghiệp vụ tức là phải hiểu biết về nghiệp vụ chuyên môn do mình lãnh đạo, biết tư duy logic về chuyên môn, biết cách đưa ra các giải pháp xử lý trong chuyên môn nghề nghiệp. Ví dụ: một giám đốc công ty xây dựng phải là một kỹ sư xây dựng giỏi, một tổng giám đốc nhà băng phải am hiểu về lĩnh vực ngân hàng tiền tệ. Gido trinh KHOA HOC QUAN LY “14 Wo Một nhóm mạnh phải đồng thời thỏa mãn các yêu cầu sau: - Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, hợp lý.
_ ~- Có mục đích chuẩn xác được xã hội thừa nhận. - Có người lãnh đạo giỏi, đức độ, có uy tín. - Có phạm vi ảnh hưởng đến các nhóm khác trong hệ thống. Phân loại nhóm Có nhiều cách phân loại nhóm.
Theo môi quan hệ - Nhóm chính thức: là nhóm được hình thành do quy chế chính thức của tổ chức. - Nhóm không chính thức: là nhóm được hình thành theo các nhóm “vệ tỉnh” nhỏ hơn và theo các “thủ lĩnh” được nhóm nhỏ này suy tôn, các thủ lĩnh này do khả năng quyền lực, do sự tín nhiệm và do uy tín cá nhân mà được mọi người yêu mến hoặc ủng hộ, tạo thành các nhóm cơ câu không chính thức. Theo cách thức làm việc của nhóm - Nhóm làm việc tự quản: là một nhóm nhỏ bao gồm các thành viên được trao quyền giải quyết một nhiệm vụ diễn ra liên tục. Hình thức nhóm này nhất thiết phải làm việc cùng nhau trong thời gian tương đối dài.
Các thành viên của nhóm có quyền tự do nhất định trong việc quyết định phương pháp làm việc hiệu quả nhất và tất cả mọi người đều được khuyến khích tự tìm kiếm các quy trình làm việc tối ưu cũng như liên tục cải thiện quy trình làm việc của mình. - Nhóm dự án: là nhóm được tô chức xoay quanh một nhiệm vụ đột xuất trong một khoảng thời gian nhất định. Khoảng thời gian này có thê là một tuần, một tháng, một năm,. Sau khi công việc hoàn tắt, nhóm sẽ giải tán.
LÃNH ĐẠOVÀ QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI c. Theo chức năng của nhóm - Nhóm chức năng: là một đội ngũ, có thể cùng làm việc hoặc không, có trách nhiệm báo cáo với một người phụ trách duy nhất để đáp ứng mục tiêu của tổ chức. - Nhóm chức năng chéo: là một nhóm được thành lập bởi những thành viên có chức năng khác nhau trong toàn bộ tô chức. Trong đó, họ chỉ dành một phần thời gian cá nhân cho các hoạt động của nhóm và một phần thời gian dành cho các nhiệm vụ khác.
- Nhóm chuyên nhiệm: là một nhóm được tô chức tạm thời với những thành viên được tập hợp lại đẻ giải quyết một vấn đề cụ thể hoặc khám phá những cơ hội mới. - Ủy ban: là một nhóm đương nhiệm có trách nhiệm xây dựng và điều hành những tư tưởng, chính sách nhất định hoặc thiết lập các thông lệ. Ba giai đoạn phát triển của nhóm Giai đoạn đầu mọi người mới tập trung lại chưa hiểu nhau, mỗi người đều tự xác định vai trò của mình vì vậy thường xảy ra mâu thuẫn tuy không đối kháng song nếu người lãnh đạo không có phương pháp lãnh đạo tốt sẽ dễ dẫn đến đồ vỡ, tốt nhất trong giai đoạn này người lãnh đạo phải sử dụng phương pháp lãnh đạo độc đoán, dùng mệnh lệnh hành chính là chính để lập lại trật tự kỷ cương trong thời gian đầu. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn đã phân hóa ra ba loại nhóm: - Nhóm tích cực - Nhóm trung gian - Nhóm tiêu cực Lúc này người lãnh đạo phải sử dụng tổng hợp hai phương pháp chuyên quyền độc đoán đi liền với dân chủ và phải dựa vào nhóm tích cực lôi cuốn nhóm trung gian đề đầu tranh mạnh với nhóm tiêu cực.
Giáo trình KHOA HOC QUAN LY 166 Giai đoạn thứ ba là giai đoạn ổn định và phát triển, lúc này mọi người đã xác định được vị trí của mình trong tập nhóm và đã có ý thức xây dựng nhóm, người lãnh đạo chuyền sang phương pháp lãnh đạo dân chủ là chính, chủ yếu là động viên khuyến khích mọi người dé ho toàn tâm toàn lực xây dựng nhóm phát triền. Những đặc điểm tâm lý của nhóm a. Truyền thông của nhóm Truyền thống của nhóm là phong tục tập quán của nhóm được truyền bá từ đời này qua đời khác được bảo vệ và được dùng để giải quyết công việc hàng ngày. Truyền thống phù hợp thì tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, còn truyền thống không phù hợp sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý.
Lan tỏa, lan truyền tâm lý Biểu thị các tác động tâm lý tương hỗ thụ động giữa các thành viên trong nhóm về các sự kiện, hiện tượng, cá nhân, nhóm hoặc hệ thong. Lúc đầu chỉ do một ý kiến đề xuất của một người nào đó về một van đề gì đó (theo chính kiến của họ), ý kiến đó nếu có những yêu tố phù hợp trong một mức độ nào đó với ý kiến của những người khác, nó sẽ nhanh chóng lan tỏa trong nhóm (trong từng khu vực hoặc cả nhóm). Nói chung, sự lan truyền tâm lý mang tính sâu sắc, nó là sự phản ứng thụ động, quán tính của con người trong nhóm.