BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI PHỤ LỤC IV GIÁO TRÌNH MÔN HỌC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH DÙNG CHO TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP NGHỀ (Ban hành kèm theo Thông tư số 08/2015/TT-BLĐTBXH ngày 27 tháng 02 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ XÃ HỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc GIÁO TRÌNH MÔN HỌC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH DÙNG CHO TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP NGHỀ, (Ban hành kèm theo Thông tư số 08/2015/TT-BLĐTBXH ngày 27 tháng 02 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) Mã môn học: MH 04 I. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT, Ý NGHĨA VÀ VAI TRÒ CỦA MÔN HỌC: - Giáo dục quốc phòng và an ninh là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân, là môn học chính khoá, thuộc nhóm các môn học chung trong chương trình dạy nghề trình độ cao đẳng. - Giáo dục quốc phòng và an ninh nhằm nâng cao dân trí quốc phòng, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. - Rèn luyện cho học sinh có ý thức tổ chức, kỷ luật; tác phong nghiêm túc; có đức tính kiên trì, bình tĩnh, nhẫn nại trong quá trình học tập, rèn luyện và áp dụng vào thực tiễn cuộc sống sau này.
MỤC TIÊU MÔN HỌC: Học sinh sau khi kết thúc môn học: - Trình bày được những hiểu biết cơ bản về nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc, lực lượng vũ trang nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam làm cơ sở để học sinh thực hiện nhiệm vụ quân sự, an ninh trong nhà trường, tham gia có hiệu quả trong sự nghiệp xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; - Thực hiện được đội ngũ đơn vị, đội ngũ từng người không có súng, các kỹ năng quân sự cần thiết; - Sử dụng được một số loại vũ khí quân dụng phổ thông; - Sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. NỘI DUNG MÔN HỌC: TT Mã Tên bài bài 1 QA01 Truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam 2 QA02 Luật giáo dục quốc phòng và an ninh, Luật nghĩa vụ quân sự và trách nhiệm của học sinh 3 QA03 Một số nội dung về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân 4 QA04 Phòng chống bão lụt, động đất sóng thần, thảm họa thiên tai 5 QA05 Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc 6 QA06 Tác hại của ma tuý và trách nhiệm của học sinh trong phòng chống ma tuý 7 QA07 Đội ngũ từng người không có súng 8 QA08 Giới thiệu, tháo và lắp súng trường CKC, súng tiểu liên AK 9 QA09 Từng người trong chiến đấu tiến công, phòng ngự 10 QA10 Các tư thế động tác cơ bản vận động trên chiến trường 11 QA11 Lợi dụng địa hình, địa vật 12 QA12 Kỹ thuật băng bó, cấp cứu 13 QA13 Phòng, chống chiến lược "Diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với Việt Nam 14 QA14 Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên và động viên công nghiệp phục vụ quốc phòng 15 QA15 Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia 16 QA16 Một số vấn đề cơ bản về dân tộc và tôn giáo 17 QA17 Những vấn đề cơ bản về bảo vệ an ninh quốc gia 18 QA18 Đội ngũ đơn vị (tiểu đội, trung đội) 19 QA19 Kỹ thuật bắn súng tiểu liên AK, súng trường CKC 20 QA20 Kỹ thuật sử dụng lựu đạn Cụ thể như sau: Bài QA01: TRUYỀN THỐNG ĐÁNH GIẶC GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM Mục tiêu: - Trình bày được những kiến thức cơ bản về truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam; - Giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống của ông cha ta trong sự nghiệp đánh giặc giữ nước, tinh thần đoàn kết quốc tế; - Xây dựng ý thức trách nhiệm, phát huy truyền thống đánh giặc giữ nước vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước Lịch sử dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc ta cho thấy tổ tiên ta bảo vệ quyền độc lập, tự chủ, giữ gìn bờ cõi núi sông ngàn lần yêu quí của đất nước vừa bằng các cuộc chiến tranh yêu nước chống xâm lược với những võ công hiển hách, vừa bằng những cuộc đấu tranh kiên quyết và khéo léo để cùng tồn tại hoà bình để xây dựng đất nước. Do ở vị trí chiến lược trọng yếu trong vùng Đông Nam Á và có nhiều tài nguyên phong phú, nên nước ta trở thành mục tiêu xâm lược của nhiều nước lớn trong khu vực và trên thế giới từ trước đến nay.
Bởi vậy, ngay từ buổi đầu dựng nước, chống giặc ngoại xâm đã trở thành một nhiệm vụ cấp thiết. Dựng nước đi đôi với giữ nước là một quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc ta. Thực tế cho thấy, nạn giặc ngoại xâm là mối đe doạ thường xuyên và nguy hiểm nhất đối với sự sống còn của đất nước ta. Kể từ cuối thế kỷ thứ III trước công nguyên đến nay, dân tộc ta đã tiến hành gần 20 cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, cùng với hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng.
Tổng thời gian chống giặc ngoại xâm chiếm khoảng hơn 12 thế kỷ. Có những thế kỷ nhân dân ta phải nhiều lần đứng lên đánh giặc, cứu nước. Từ những cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên (Cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên mà sử sách ghi lại là cuộc kháng chiến chống quân Tần), đến những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược giành và giữ độc lập từ thế kỷ II TCN đến đầu thế kỷ X và cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào mùa xuân năm 40 đã giành được độc lập; các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII, hai lần kháng chiến chống quân Tống, ba lần kháng chiến chống quân Nguyên của nhà Trần ở thế kỷ XIII, rồi đến cuộc kháng chiến chống Minh do Hồ Quý Ly lãnh đạo (1400 - 1007), khởi nghĩa Lam Sơn và chiến tranh giải phóng dân tộc do Lê Lợi, Nguyễn Trãi lãnh đạo. Nhân dân ta thời nào cũng vậy, luôn nêu cao cảnh giác, chuẩn bị lực lượng đề phòng giặc ngay từ thời bình; trong chiến tranh, vừa chiến đấu, vừa sản xuất, xây dựng đất nước và sẵn sàng đối phó với âm mưu của kẻ thù.
Vì vậy, nhiệm vụ đánh giặc, giữ nước hầu như thường xuyên, cấp thiết và luôn gắn liền với nhiệm vụ xây dựng đất nước. Vận dụng tư tưởng quân sự “Lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh” Đây là nét đặc sắc và tất yếu trong nghệ thuật quân sự của ông cha ta, khi dân tộc ta luôn phải chống lại các đội quân xâm lược có quân số, vũ khí, trang bị lớn hơn nhiều lần. Nghệ thuật lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh chính là sản phẩm của lấy “Thế” thắng “Lực”. Quy luật của chiến tranh là mạnh được, yếu thua, nhưng từ trong thực tiễn chống giặc ngoại xâm, cha ông ta đã sớm xác định đúng về sức mạnh trong chiến tranh, đó là: Sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố, chứ không thuần tuý là sự so sánh, hơn kém về quân số, vũ khí của mỗi bên tham chiến.
Để chống lại 30 vạn quân xâm lược Tống (1077), nhà Lý trong khi chỉ có khoảng 10 vạn quân, Lý Thường Kiệt đã tận dụng được ưu thế để tạo ra sức mạnh hơn địch và đánh thắng địch. Thời nhà Trần có khoảng 15 vạn quân, chống lại giặc Nguyên - Mông, lần thứ 2 là 60 vạn, lần 3 là khoảng 50 vạn. Nhà Trần đã “Lấy đoản binh để chế trường trận”, hạn chế sức mạnh của giặc, để đánh thắng giặc. Cuộc khởi nghĩa của Lam Sơn, quân số lúc cao nhất có khoảng 10 vạn, nhưng đã đánh thắng 80 vạn quân Minh xâm lược.
Vì Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã vận dụng “Tránh thế ban mai, đánh lúc chiều tà” và vận dụng cách đánh “Vây thành để diệt viện”. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mãn Thanh xâm lược, nhà Tây Sơn có khoảng 10 vạn quân, nhưng đã đánh thắng 29 vạn quân xâm lược và quân bán nước Lê Chiêu Thống vì Nguyễn Huệ đã dùng lối đánh táo bạo, thần tốc, bất ngờ. Vì thế, lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, tạo sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để giành thắng lợi là một tất yếu, một quy luật xuyên suốt trong lịch sử đấu tranh, giữ nước của dân tộc ta. Phát huy tinh thần yêu nước chiến đấu hi sinh vì độc lập dân tộc tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện Để chiến thắng giặc ngoại xâm có tiềm lực kinh tế, quân sự hơn ta nhiều lần, nhân dân Việt Nam phải đoàn kết cả dân tộc, đoàn kết toàn dân sẽ tạo thành nguồn sức mạnh to lớn của cả dân tộc, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Thời Trần có vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức chiến đấu, nên ba lần đại thắng quân Mông - Nguyên. Thời chống Minh, nghĩa quân Lam Sơn, tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào. Trong những cuộc chiến tranh giữ nước từ thế kỷ X đến XIX, nhân dân ta dưới sự chỉ huy của các vị tướng tài giỏi đã thực hiện toàn dân đánh giặc; biết dựa vào địa hình, địa thế có lợi cho ta, bất lợi cho địch; vận dụng “Vườn không nhà trống” và mọi cách đánh phù hợp làm cho địch đi đến đâu cũng bị đánh, bị tiêu hao, tiêu diệt. Nét đặc sắc nghệ thuật quân sự của ông cha ta trong các cuộc chiến tranh giữ nước kể trên là tích cực, chủ động tiến công địch.
Điển hình như Lý Thường Kiệt (1075) đã dùng biện pháp “Tiên phát chế nhân” (không ngồi chờ giặc đến mà chủ động đánh trước vào hậu phương địch rồi rút lui để phá vỡ kế hoạch của chúng); lấy đoản binh thắng trường trận; “yếu chống mạnh, Lấy ít địch nhiều”. Đến thời vua Quang Trung năm 1788 - 1789, đã thực hiện lúc địch mạnh ta có thể lui quân để bảo toàn lực lượng, lúc địch suy yếu ta bất ngờ chuyển sang đánh đòn quyết định tiêu diệt địch trong một thời gian ngắn. Chiến tranh là sự thử thách toàn diện đối với mỗi quốc gia trong tham chiến. Trong chống giặc ngoại xâm, ông cha ta đã biết kết hợp chặt chẽ các mặt trận nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để đánh thắng kẻ thù.