Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam Chương 2: Xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm chủ quyền và khái niệm liên quan Khái niệm chủ quyền “Chủ quyền là quyền làm chủ của một nước trong các quan hệ đối nội và đối ngoại. Tôn trọng chủ quyền của mỗi nước.
Bảo vệ chủ quyền.” Với khái niệm trên có thể hiểu chủ quyền quốc gia là quyền tối cao của mỗi quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập quốc gia trong quan hệ đối ngoại. Trong phạm vi lãnh thổ, mỗi quốc gia có toàn quyền quyết định mọi vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia mình. Trong quan hệ quốc tế, mỗi quốc gia đều có quyền quyết định những vấn đề như lựa chọn chế độ chính trị, xã hội cũng như chính sách đối ngoại của mình mà không quốc gia nào có quyền can thiệp. Tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ, dù khác nhau về tính chất chính trị hay trình độ kinh tế xã hội đều được bình đẳng về chủ quyền quốc gia.
Mặt khác, khái niệm chủ quyền quốc gia bao gồm cả việc tôn trọng chủ quyền các nước khác và tôn trọng luật pháp quốc tế. Từ điển Tiếng Việt thông dụng có viết: “Chủ quyền là quyền làm chủ một nước, một quốc gia về mọi mặt, tôn trọng chủ quyền nước khác, khẳng định chủ quyền về lãnh thổ.” Tóm lại, “ Chủ quyền là quyền làm chủ một nước về tất cả mọi mặt ”. Một số khái niệm liên quan Khái niệm quyền chủ quyền: Theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 “Quyền chủ quyền là quyền của các quốc gia ven biển 5 được hưởng trên cơ sở chủ quyền đối với một loại tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình cũng như đối với các hoạt động nhằm thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó vì mục đích kinh tế bao gồm cả việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu, gió.” Khái niệm quyền tài phán: “Quyền tài phán là thẩm quyền riêng biệt của các quốc gia ven biển được quy định, cấp phép, giải quyết và xử lý với một số loại hình hoạt động, các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình; nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ và giữ gìn môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia đó.” Khái niệm chủ quyền lãnh thổ quốc gia: “Chủ quyền quốc gia là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó. Quốc gia thể hiện chủ quyền của mình trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao.
Khái niệm Biển, Đảo Khái niệm Biển “Biển” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: “Biển” là phần đại dương ít nhiều bị ngăn cách bởi lục địa, các đảo hoặc vùng cao của đáy, có chế độ thủy văn riêng biệt. Tùy theo mức độ ngăn cách với đại dương và đặc điểm chế độ thủy văn. Biển được phân thành ba nhóm: Biển nội địa (còn gọi: biển kín), Biển ven bờ và Biển bao quanh bởi các đảo”. Biển nói chung là một vùng nước mặn rộng lớn nối liền với các đại dương hoặc các hồ lớn chứa nước mặn mà không có đường thông ra đại dương một cách tự nhiên, như biển Caspi, biển Chết.
Trong cuốn Hỏi - đáp về chủ quyền biển đảo trong luật pháp Việt Nam có định nghĩa: “các khu vực nhỏ hơn của đại dương nằm ven bờ các quốc gia 6 được gọi là biển, như biển Đông, biển Hoàng Hải, biển Bantic, biển Bắc.” Khái niệm Đảo: “Đảo” hay hòn đảo là phần đất liền được bao quanh hoàn toàn bởi nước nhưng không phải là một lục địa”. Theo điều 121, Công ước 1982, “Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên, vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.” “Quần đảo” là một tổng thể các đảo kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền các thành phần tự nhiên khác có liên quan ch ặt chẽ đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thể về mặt lịch sử. Khái niệm xây dựng và bảo vệ chủ quyền Biển, Đảo Xây dựng và bảo vệ chủ quyền Biển đảo quốc gia là thực hiện tổng thể các giải pháp, biện pháp trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại và An ninh quốc phòng nhằm thiết lập và bảo đảm quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn, đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ biển đảo Tổ quốc. Cơ sở lí luận của viêc xây dựng và bảo vệ chủ quyền Biển, Đảo Việt Nam 1.
Luật pháp quốc tế về Biển, Đảo Việt Nam Ngày nay, hệ thống pháp luật quốc tế về biển và hải đảo bao gồm những điểu ước quốc tế, những tập quán quốc tế, những phán quyết của Tòa án quốc tế, các học thuyết pháp lý quốc tế và luật pháp quốc gia của các nước có liên quan. Tập chung nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Với việc công ước lần lượt được các nước ký kết và có hiệu lực, lần đầu tiên loài người có một văn kiện pháp lý quốc tế tổng hợp toàn đề cập những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý quốc tế của biển và đại dương. Từ ngày ra đời đến nay, Công ước năm 1982 được coi như một bản hiến pháp về Biển của cộng đồng quốc tế.
Một số quy định của Công ước về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển như sau: 7 1.Các vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển a. Nội thủy - Xác định phạm vi: “Nội thủy” (còn gọi “vùng nước nội thủy ”) là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải (nói tắt là “đường cơ sở”) và giáp với bờ biển. Đường cơ sở này do quốc gia ven biển quy định vạch ra. Từ đó trở vào gọi là nội thủy, từ đó trở ra gọi là lãnh hải.
- Quy chế pháp lý: Quốc gia ven biển cũng có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ trong vùng lãnh hải, song không tuyệt đối như nội thủy. Nghĩa là quyền của quốc gia ven biển được công nhận như ở lãnh thổ của mình (về lập pháp, hành chính và tư pháp), trên các lĩnh vực phòng thủ quốc gia, cảnh sát, thếu quan, đánh cá, khai thác tài nguyên, đấu tranh chống ô nhiễm, nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, các tàu thuyền nước ngoài có “quyền đi qua không hây hại, cụ thể là nước khác có quyền đi qua vùng lãnh hải của nước ven biển mà không phải xin phép trước nếu họ không tiến hành bất cứ hoạt động gây hại nào. Các vùng biển quốc gia ven biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán a.
Vùng tiếp giáp lãnh hải - Xác định phạm vi Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài lãnh hải va tiếp liền với lãnh hải. Phạm vi của vùng tiếp giáp lãnh hải không vượt quá 24 hải lý tính từ đường cơ sở. Điều 33 Công ước về Luật Biển năm 1982 quy định: “Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý kể tự đường cơ sở dừng để tính chiều rộng của lãnh hải.” - Quy chế pháp lý: Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 [ Điều 33] quy định trong vùng tiếp giáp, quốc gia ven Biển có thể tiến hành các hoạt động kiểm soát 8 cần thiết nhằm để ngăn ngừa những vi phạm đối với luật lệ về hài quan, thếu khóa, y tế hay nhập cư; đồng thời trừng phạt những vi phạm đã xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của mình. Riêng đối với các hiện vật có tính lịch sử và khảo cổ, Điều 303 Công ước về Luật Biển năm 1982 quy định mọi sự trục vớt các hiện vật này từ đáy biển thì đều bị coi là vi phạm xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của quốc gia đó và quốc gia đó có quyền trừng trị.Vùng đặc quyền kinh tế - Xác định phạm vi Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải, có phạm vi rộng không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
Như vậy, phạm vi lãnh hải rộng 12 hải lý bên trong vùng đặc quyền kinh tế nên chiều rộng riêng của vùng đặc quyền kinh tế là 188 hải lý. Vùng đặc quyền kinh tế bao gộp trong nó cả vùng tiếp giáp lãnh hải. Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng đặc thù trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế được Công ước về Luật Biển năm 1982 quy định. - Quy chế pháp lý Vùng đặc quyền kinh tế có chế độ pháp lý riêng biệt do Công ước về Luật Biển năm 1982 quy định về các quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như quyền tự do của các quốc gia khác.
Cụ thể như sau: Đối với các quốc gia ven Biển Quốc gia ven biển có các quyền chủ quyền về việc thăm dò, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật hoặc không sinh vật của vùng nước đáy biển, của đáy biển và vùng đất dưới đáy biển cũng những những hoặt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế. Đối với các tài nguyên không sinh vật, quốc gia ven biển tự khai thác hoặc cho phép quốc gia khác khai thác cho mình và đặt dưới quyền kiểm soát của mình. Đối với với các tài nguyên sinh vật, quốc gia ven biển tự động tổng 9 khối lượng có thể đánh bắt, khả năng thực tế của mình và số dư có thể cho phép các quốc gia khác đánh bắt.