Mở đầu: Giới thiệu môn học + Bài 1: Tế bào và mô + Bài 2: Hệ thần kinh + Bài 3: Hệ nội tiết + Bài 4: Hệ vận động + Bài 5: Hệ tiêu hóa + Bài 6: Hệ tuần hoàn + Bài 7: Hệ hô hấp + Bài 8: Trao đổi chất và năng lượng + Bài 9: Điều hòa thân nhiệt + Bài 10: Hệ tiết niệu + Bài 11: Hệ sinh dục + Bài 12: Da và các phụ phẩm của da. Mối quan hệ với các môn học khác Môn giống vật nuôi có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều môn học như: Môn di truyền, hóa sinh động vật, sinh sản vật nuôi, các môn chuyên nghành khác. BÀI 1: TẾ BÀO VÀ MÔ Giới thiệu: Trong cơ thể có rất nhiều tế bào, tuy nhiên xét về chức năng, người ta có thể xếp loại thành những nhóm tế bào có nhiệm vụ giống nhau. Các nhóm đó gọi chung là mô.Vậy thế nào là mô? Cơ thể chúng ta có những loại mô.Bài này sẽ giới thiệu cho người học nội dung này.
Mục tiêu của bài: - Nhận biết được về hình dạng, kích thước, cấu tạo và chức năng sinh lý của các loại tế bào và mô trong cơ thể động vật nuôi đang khỏe mạnh. - Phân biệt được các loại tế bào, mô ở từng bộ phận trong cơ thể vật nuôi. - Rèn luyện tính tỉ mỉ, chính xác khi thực hiện từng thao tác - Ứng dụng vào thực tế chăn nuôi, phòng trị bệnh cho gia súc, gia cầm Nội dung: Nội dung 1. Khái niệm Tế bào là đơn vị sống nhỏ nhất, có những đặc điểm cơ bản của cơ thể sống như trao đổi vật chất, tính chịu kích thích, lớn lên, sinh sản và chết.
Hình dạng Theo trình độ tiến hoá của sinh vật, các tế bào động vật được biến hoá ra thành nhiều loại, mỗi loại có hình thái, chức năng riêng. Ví dụ: Có tế bào hình đĩa như hồng cầu, có tế bào hình đa giác như tế bào gan, tế bào có đuôi như tinh trùng, có lông rung như tế bào niêm mạc đường hô hấp, có loại tế bào sinh sản rất nhanh như tế bào sinh dục, có loại không sinh sản như tế bào thần kinh. Kích thước Kích thước của tế bào rất khác nhau đối với các loài khác nhau. Nói chung, tế bào có độ lớn trung bình vào khoảng 3 - 30μm.
Nhưng có những tế bào rất lớn có thể nhìn thấy, sờ mó được như trứng gà, trứng vịt. Tế bào có kích thước lớn nhất là trứng đà điểu, đường kính đạt tới 17,5cm. Trái lại, đa số tế bào vi khuẩn có kích thước từ 1 - 3μm. Màng tế bào Bao bọc mặt ngoài của tế bào, có tính thẩm thấu chọn lọc, không chứa celluloza như ở tế bào thực vật.
Chất nguyên sinh Gồm có: - Chất nguyên sinh căn bản: Là chất keo vô định hình thuộc loại albumin giống như lòng trắng trứng gà. - Chất nguyên sinh biệt hóa: Bên cạnh chất nguyên căn bản, thường có những bộ phận có hình rõ rệt được biệt hoa để làm cho tế bào có chức năng mới như thể golghi, tiểu vật, bào tám. Nhân tế bào Nằm trong tế bào, nhân có hình dạng thay đổi tùy theo loại tế bào. Ví dụ: Nhân tế bào hồng cầu gà có hình bầu dục, nhân tế bào gan có hình tròn, nhân của tế bào bạch cầù có loại hình tròn, có loại chia nhiềù thùy.
Nhân có thể nằm giữa hay lệch về một bên. Trong nhân có những hạt bắt màu gọi là nhiễm sắc chât. Trong thời kỳ tế bào phân chia tâp hợp thanh nhiễm sắc thể, có chứa gen. Nhân đóng vai trò quan trọng trong đời sống của tế bào, đặc biệt trực tiếp tham gia vào việc sinh sản của tế bào (trừ tế bào thần kinh).
Sự trao đổi chất của tế bào Tất cả những phản ứng sinh lý, sinh hóa xảy ra trong tế bào gọi là sự trao đổi chất của tế bào. Sự trao đổi vật chất được tiến hành dưới hai quá trình đồng hóa và dị hóa. - Quá trình đồng hóa: Là phản ứng xây dựng nên vật chất của tế bào. Ví dụ: Sự tổng hợp chất gluxit thành mỡ, tổng hợp chất protit từ các axit amin, tổng hợp glycogen từ glucoza.
- Quá trình dị hóa: Là những phản ứng phân huy các chất sẵn có trong tế bào và những cặn bã được thải ra ngoài. Ví dụ: Oxy hoa glucoza thành năng lượng, CO 2 và H 2 O. Tính thích ứng và trạng thái hưng phấn của tế bào - Trạng thái hưng phấn: Những hoạt động của tế bào phản ứng với kích thích của ngoại cảnh gọi là trạng thái hưng phấn của tế bào. - Tính thích ứng: Do ngoại cảnh luôn thay đổi nên tác động đến tế bào mỗi lúc mỗi khác nhau.
Để kịp thời chuyển biến cho phù hợp với ngoại cảnh, tế bào có khả năng thích ứng, gọi đó là tính thích ứng. Sự thích ứng có khi là tạm thời. Sự sinh sản của tế bào Tế bào phát triển đến một mức độ nhất định thì phân chia thành nhiều tế bào, đó là sự phân bào. Có hai hình thức phân bào: Trực phân và gián phân.
- Hình thức trực phân: Nguyên sinh chất và nhân kéo dài ra, rồi thóp lại ở giữa, sau cùng đứt thành hai phần tưởng đưởng là hai tế bào mới. Trực phân có thể thấy khi bạch cầu cần phân chia gấp. - Hình thức gián phân: Là sự phân chia phức tạp của tế bào trải qua nhiều giai đoạn trung gian, bắt đầu là sự phân chia của nhân, rồi đến chất nguyên sinh, cuối cùng cũng phân thành hai tế bào mới. Khái niệm Ở động vật đơn bào mọi cơ năng đều do một tế bào đảm nhiệm.
Còn ở động vật đa bào cơ thể cấu tạo phức tạp hơn, có các nhóm tế bào chuyển hóa. Những nhóm tế bào ấy khác nhau về vị trí, hình thái, chức năng sinh lý hình thành nên các mô hay tổ chức. Trong cơ thể động vật có rất nhiều mô, được xếp thành bốn loại như sau: - Mô liên bào - Mô liên kết - Mô cơ - Mô thần kinh 2. Mô liên bào 2.
Định nghĩa Mô liên bào là loại mô do các tế bào ghép sát vào nhau không có một chất nào ở giữa ngăn cách. Nó bao phủ mặt trong của cở quan tiêu hoá và các tổ chức khác (tuyến tiết, giác quan.) và mặt ngoài của cở thể là da. Phân loại Căn cứ vào nhiệm vụ chia biểu mô thành hai loại là mô liên bào phủ và mô liên bào tuyến. + Mô liên bào phủ: Là những mô liên bào được biệt hoa để phủ mặt ngoài cơ thể (da) hay mặt trong các ống rỗng trong cơ thể (niêm mạc).
+ Mô liên bào tuyến: Là những mô liên bào được biệt hóa, có khả năng thấm hút và bài tiết chất dịch nào đó: có thể là cặn bã của cơ thể, có thể mô rút từ trong máu ra những chất cần thiết để tạo thành chất mới (sữa, mồ hôi. Cấu tạo + Mô liên bào đơn: Chỉ có một lớp tế bào (như niêm mạc ruột, phế nang). + Mô liên bào kép: Gồm nhiều lớp tế bào ghép lại (như niêm mạc khí quản). + Một số mô liên bào bề mặt dày lên đẫm chất sừng như mô liên bào thượng bì ở da, hoặc có lông rung động như niêm mạc thanh quản, khí quản.
+ Mô liên bào tuyến - tuyến ống: Có thể là tuyến đơn như tuyến mồ hôi hoặc chia nhánh như tuyến dịch vị. + Mô liên bào tuyến - tuyến chùm: ông dẫn của tuyến chia làm nhiều nhánh, cấu tạo theo chiều nhỏ dần như một cành cây. Mỗi nhánh tận cùng bằng một túi gồm nhiều tế bào hợp thành như tuyến vú, tuyến tụy. Sinh lý - Đặc điếm và chức năng sinh lý mô liên bào phủ + Có khuynh hướng giãn ra và sát vào nhau, có tác dụng bảo vệ (da, niêm mạc).
+ Sinh trưởng mạnh, tái sinh dễ dàng nhất là tế bào niêm mạc. + Có tiêm mao rung động để đẩy vật lạ. - Đặc điểm và chức năng sinh lý của mô liên bào tuyến: + Có khả năng thấm hút và bài tiết chất nhờn (mồ hôi), nhờ vậy mà niêm mạc luôn ướt, da thường xuyên bóng. + Mô có thể lấy từ trong máu ra những chất cần thiết để tạo thành chất mới (sữa, mồ hôi.
+ Sự hoạt động của tế bào tuyến có tính chất chu kỳ: Kỳ tạo và tích trữ các chất tiết, kỳ tiết chất tiết và kỳ nghỉ. Tùy theo từng loại tuyến mà khả năng chế tiết có khác nhau. Mô liên kết 2. Định nghĩa Mô liên kết là một loại mô trong đó các tế bào không dính sát vào nhau, bao giờ cũng cách nhau bởi một chất gọi là gian chất hay chất căn bản.
Phân loại Căn cứ vào tính chất của chất căn bản, người ta chia mô liên kết ra làm 3 loại: - Mô liên kết chính thức, có độ mềm và có mặt ở mọi nơi trong cơ thể. - Mô sụn, chất căn bản nhiễm cartilagein (chất sụn), có độ rắn vừa phải. - Mô xương, chất căn bản nhiễm ossein và muối calci vì vậy có độ rắn lớn. Cấu tạo Mỗi loại mô liên kết đều được tạo thành bởi: - Thành phần gian bào gồm: phần lỏng gọi là dịch mô.
Phần đặc hơn, có đặc tính của hệ keo gọi là chất căn bản. - Các sợi liên kết vùi trong chất căn bản. - Các tế bào liên kết nằm rải rác trong thành phần gian bào. Sinh lý - Mô liên kết thưa: Là loại mô liên kết trong đó các tế bào cũng như các chất căn bản như sợi hồ, sợi chun nằm thưa thớt rời rạc.
Thường thấy mô liên kết thưa ở tầng dưới da, xung quanh phủ tạng, màng treo ruột. Đặc điếm sinh lý: + Trong mô liên kết thưa có nhiều mạch máu nên có công dụng đặc biệt trong việc nuôi các mô khác nhất là mô liên bào. + Tái sinh dễ dàng. Tế bào có khả năng từ cố định trở nên lưu động, thay hình đổi dạng và sinh sản rất nhiều để chống đỡ và sửa chữa lại trong trường hợp bộ phận bị tổn thương.
Nhờ vậy nên khi phần da hay niêm mạc bị tổn thương dễ thành sẹo, mau lành. + Có khả năng dự trữ mỡ. + Về phương diện vật lý, hóa học, mô liên kết thưa dễ bị hỏng bởi rượu, axit và kiềm mạnh (vì vậy khi tiêm dưới da cần tránh những thuốc có đặc tính này). - Mô liên kết mau: Loại mô này trong chất căn bản có nhiều sợi hồ và sợi chun xếp sát nhau, nó không rời như mô liên kết thưa, còn các tế bào vừa ít, vừa nhỏ bị đè ép giữa các bó sợi liên kết nên khó nhận ra.