ỦY BAN NHÂN DẦN THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NỘI GIÁO TRÌNH CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỘNG ĐÒNG (TÀI LIỆU DÙNG CHO SINH VIÊN NGÀNH CAO ĐẲNG ĐIỀU DƯỠNG) Hà Nội, 2020 1 BÀI 1. ĐẠI CƯƠNG VÈ CHĂM SÓC sức KHÓE CỘNG ĐỒNG I. MỤC TIÊU Sau khi học xong bài học này, sinh viên có khả năng: * Kiến thức 1. Trình bày khái niệm sức khỏe và sức khỏe toàn diện 2.
Mô tả được các yếu tố quyết định sức khỏe 3. Trình bày được khái niệm cộng đồng và chăm sóc sức khỏe cộng đồng * Kĩ năng 4. Áp dụng được kiến thức của bài học để phân tích các yếu tố tác động đến sức khỏe trong tình huống giả định. * Năng lực tự chủ và trách nhiệm 5.
Xây dựng được thái độ tích cực, chủ động, họp tác trong làm việc nhóm và coi trọng vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Khái niệm về sức khoẻ Định nghĩa sức khỏe của WHO (1948): "Sức khoẻ là một trạng thải thoải mải hoàn toàn về thế chất, tâm thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh hay tật” (Health is a State of complete physical, mental and social well-being and not merely the absence of disease or infirmity - WHO, 1948). Như vậy, sức khoẻ là sự phối họp hài hòa của cả ba thành phần: thế chất, tâm thần/tinh thần và xã hội, ba thành phần này có mối quan hệ mật thiết với 2 nhau và tác động qua lại chứ không tách biệt riêng rẽ. Một người có sức khỏe thế chất tốt (ăn tốt, ngủ tốt, cảm thấy khỏe mạnh) thường có điều kiện tốt hơn đế phát triển sức khỏe tâm thần/tinh thần hay dễ dàng hòa nhập với các hoạt động xã hội hơn so với khi đau yếu hay gặp khó khăn về sức khỏe.
Ngược lại, một người hạnh phúc về tinh thần và có đời sống xã hội thành công cũng thường có sức khỏe thể chất tốt hơn. Dưới góc độ cá nhân, một người được coi là khỏe mạnh nếu người đó ít đau ốm, ít khuyết tật, có cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội hạnh phúc; có cơ hội lựa chọn trong công việc và nghỉ ngơi; chất lượng cuộc sống được cải thiện. Dưới góc độ cộng đồng, một cộng đồng được coi là cộng đồng khỏe mạnh khi người dân của cộng đồng đó có khả năng tham gia một cách hiệu quả vào việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động phòng chống bệnh tật, hoạch định các chính sách liên quan đến bảo vệ và nâng cao sức khỏe, chất lượng cuộc sống của người dân được đảm bảo (an toàn, điều kiện sống và sinh hoạt, môi trường sống. Quan niệm về sức khỏe toàn diện Theo quan niệm mới, sức khỏe không chỉ là sự khỏe mạnh về mặt thể chất mà còn phải thoải mái về các mặt khác như: tâm thần, cảm xúc, xã hội.
cũng như thích ứng tốt với những biến động của môi trường sống. Dưới đây là các khái niệm về sức khỏe thế chất, sức khỏe tâm thần, sức khỏe cảm xúc, sức khỏe xã hội và sức khỏe môi trường. Sức khoẻ thế chất: thể hiện ở trình độ phát triển thể hình, thể lực của cơ thể và khả năng thích ứng của cơ thể với điều kiện sống và lao động. Thể hình (tầm vóc) được thế hiện ở sự phát triến chiều cao, cân nặng và tỷ lệ giữa các bộ phận của cơ thể.
Thể lực được thể hiện ở mức độ phát triển của các tố chất thế lực như sức mạnh, sức nhanh, sức bền, sức dẻo dai và sự khoé léo. Sức khoẻ tâm thần: thế hiện khả năng tự làm chủ được bản thân, luôn giữ được thăng bằng trong lý trí và trong tình cảm. 3 Sức khoẻ cảm xúc: thể hiện ở khả năng cảm nhận xúc động về sự sợ hãi - thích thú - vui buồn - tức giận và khả năng thể hiện các cảm nhận này một cách thích họp. Đồng thời cũng là khả năng đương đầu với các stress - sự căng thắng thất vọng và sự lo lắng.
Sức khoẻ xã hội: thể hiện thể chế xã hội, các quy định về luật pháp, chế độ chính sách xã hội, mối quan hệ giữa con người trong xã hội, khả năng hòa nhập của con người với xã hội và khả năng tác động nhằm cải tạo môi trường xã hội đó. Sức khoẻ môi trường: thế hiện sự thích ứng của cơ thế với môi trường xung quanh (bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xà hội). Các yếu tố quyết định sửc khoẻ Có rất nhiều yếu tổ quyết định sức khỏe, các yếu tố không tách rời nhau hoặc loại trừ lẫn nhau mà liên quan chặt chẽ với nhau. Có nhiều cách phân loại các yếu tố quyết định sức khỏe.
Một số tác giả phân chia các yếu tố quyết định sức khỏe thành 2 nhóm: nhóm các yếu tố bên trong (yếu tố nội sinh) và nhóm các yếu tố bên ngoài. Yếu tổ bên trong (yếu tố nội sinh) là những yếu tố quyết định nên thuộc tính/đặc điểm của chủ thể mà có tác động đến sức khỏe, gồm: gen - yếu tố di truyền, tuối, giới, kiến thức, thái độ/niềm tin sức khỏe, hành vi sức khỏe. Yếu tố ngoại sinh (còn gọi là yếu tố bên ngoài): là những yếu tố thuộc môi trường sống tác động đến sức khỏe của chủ thế, gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Một số tác giả khác lại phân chia các yếu tố quyết định sức khóe thành 3 nhóm: yếu tố gen-di truyền, yếu tố môi trường và các yếu tố thuộc hành vi - lối sống.
Nhiều tác giả phân chia các yếu tố quyết định sức khỏe thành 4 nhóm, gồm: yếu tố gen - di truyền; yếu tố môi trường; yếu tố liên quan đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe và yếu tố hành vi/lối sống. Đây là một trong những cách phân 4 loại được ứng dụng nhiều nhất. Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày 4 nhóm yếu tố tác động đến sức khỏe. Yeu tố gen - di truyền: - Yếu tố sinh học: tuổi, giới - Yeu tố di truyền: bệnh do gen qui định (tiếu đường typ I, bệnh máu khó đông.), bệnh có yếu tố gia đình (tiểu đường typ II, một số loại ung thư.) hay liên quan đến chủng tộc.
Yeu tố môi trường: Yeu tố môi trường gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố thuộc môi trường tự nhiên (đất, nước, không khí) tác động đến sức khỏe con người: - Yeu tố vật lý: nhiệt độ, ánh sáng, độ ấm, áp suất không khí, sức gió các tia bức xạ có sẵn trong ánh nắng mặt trời hay trong tự nhiên, khói, bụi (ví dụ từ hoạt động của núi lửa), tiếng ồn. - Yeu tố hóa học: các hóa chất có mặt trong môi trường đất, nước, không khí có thế gây bất lợi cho sức khỏe của con người như: thuốc bảo vệ thực vật, các chất phụ gia/chất bảo quản, chất tẩy rửa, các hóa chất dùng trong công nghiệp/sản xuất, thuốc, các hóa chất có sẵn trong không khí (CO, CO2, 02.), trong đất (iod, sắt, flour. - Yeu tố sinh học: các vi sinh vật gây bệnh có sẵn trong tự nhiên (các chủng virus cúm gia cam, virus viêm não Nhật Bản, các loại giun sán.), sự cân bằng của hệ sinh thái.
Môi trường Xã hội: - Yếu tố văn hóa - giáo dục: giáo dục, trình độ học vấn, niềm tin, phong tục tập quán, bình đẳng. - Tình trạng kinh tế - xã hội: thu nhập, thất nghiệp, điều kiện lao động, nghèo đói, khoảng cách giàu - nghèo, dân số,. 5 - Thể chế, chính sách - An ninh - chính trị: bất ổn chính trị, chiến tranh, xung đột. Sức khỏe chịu tác động lớn từ môi truờng xã hội.
Sức khỏe cũng nằm trong hệ thống giá trị văn hóa - xã hội. Một số yếu tố thuộc văn hóa - xã hội có liên quan mật thiết tới sức khóe nhu: phong tục tập quán; văn hóa ăn uống - ẩm thực; văn hóa thời trang -ăn mặc; văn hóa trong hôn nhân và tình dục. Phong tục tập quán là văn hóa đặc trung của từng vùng, từng nhóm dân tộc/sắc tộc. Nhân dân ta từ xưa đã có nhiều phong tục tập quán tốt cho sức khỏe như: phụ nữ có thai và những người đau yếu không bị đòi hỏi phải đến dự đám ma của những người thân/quen, tục “lên lão” nhằm tôn vinh sức khỏe của những người lớn tuối, tục lệ mừng tuối (lì xì) cho trẻ nhỏ và người già nhằm thế hiện sự ưu tiên chăm sóc đối với những người dễ có nguy cơ về sức khỏe.
Tuy vậy, có một số phong tục tập quán lạc hậu không có lợi cho sức khỏe cũng cần được xóa bỏ như: tục mai táng lộ thiên hay chôn cất người thân ở gần nơi ở của một số dân tộc thiếu số, nạn tảo hôn, việc kiêm khem quá mức của phụ nữ sau sinh, cúng bái ma chay khi đau ốm. Trong văn hóa ăn uống - ẩm thực, hiện tồn tại một số thực hành bất lợi cho sức khỏe. Sự bất cân đối và họp lý trong chế độ dinh dường dẫn đến tình trạng thiếu dinh dưỡng/thiếu vi chất ở nhóm dân số thu nhập thấp, đặc biệt người dân nghèo sinh sổng ở những vùng sâu, vùng xa. Ngược lại, nhóm thu nhập cao đặc biệt ở các thành phố lớn thì đang đối mặt với tình trạng thừa cân/béo phì.
Ngoài ra, một số món ăn truyền thống cũng gây nguy cơ mất vệ sinh an toàn thực phẩm như: gỏi cá, tiết canh hay các món sống hoặc không được nấu chín kĩ khác. Một số tập quán ăn uống không lành mạnh như tục chuốc rượu bia ở các bữa tiệc hay các bữa cơm đãi khách hay việc coi bữa tối là bữa ăn chính. cũng đều gây hại cho sức khỏe. 6 Trong văn hóa ăn mặc - thời trang, một bộ phận người dân chỉ chủ yếu quan tâm tới việc chạy theo mốt mà thiếu quan tâm tới sức khỏe.
Việc mặc quá chật, sử dụng chất liệu không thấm hút mồ hôi, phong phanh hay không phù họp với thời tiết. đều có thế gây bất lợi đối với sức khỏe. Trong hôn nhân và tình dục cũng cần khuyến khích tự do hôn nhân, đề cao tính tự nguyện và an toàn trong tình dục thay vì truyền thống lấy chồng/lấy vợ theo sự gán ghép hay ép buộc của những người có sức ảnh hưởng (cha mẹ, những người lớn tuối và có tiếng nói trong dòng tộc. Cũng cần loại bỏ những suy nghĩ cực đoan hay những quan điếm sai lầm về quyền - nghĩa vụ trong hôn nhân và tình dục.