Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Chương này trình bày các công trình nghiên cứu về MLXH nói chung và trong KCB nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam, QHXH ở nông thôn Việt Nam dựa trên những tài liệu mà chúng tôi tiếp cận được, qua đó xem xét lịch sử vấn đề nghiên cứu. Chương này tập trung phân tích, tổng hợp những cách tiếp cận, nội dung và kết quả nghiên cứu có liên quan nhằm tìm ra khoảng trống nghiên cứu và cơ sở cho luận án. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MẠNG LƯỚI XÃ HỘI VÀ MẠNG LƯỚI TRONG CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRÊN THẾ GIỚI 1. Những nghiên cứu về mạng lưới xã hội trên thế giới Granovetter cho rằng nghiên cứu về MLXH có nguồn gốc từ xã hội học, sau này được gọi là phân tích MLXH [93].
Có những định nghĩa khác nhau về MLXH, theo Wasserman và Faust đó là “tập hợp các chủ thể và các mối quan hệ giữa các chủ thể” [144] hoặc là “cấu trúc của các mối quan hệ liên kết giữa các chủ thể xã hội” [117, tr. Còn theo Faber và Wasserman, MLXH là cấu trúc đặc trưng cho tập hợp các mối quan hệ [92]. Về vai trò của các mối quan hệ trong MLXH, Pescosolido cho rằng các mối quan hệ hoặc những ràng buộc là nền tảng cơ bản tạo nên kinh nghiệm của con người và dựa vào đó có thể mô hình hóa các kết nối giữa các cá nhân [124]. Còn theo Knoke thì cấu trúc của các mối quan hệ giữa các chủ thể có ảnh hưởng quan trọng đối với cá nhân và toàn bộ hệ thống [111].
Tầm quan trọng của MLXH và các mối QHXH đã được khẳng định và chứng minh hành vi của cá nhân có thể phân loại theo quan hệ của họ với người khác. Nghiên cứu MLXH có thể thực hiện ở quy mô nhỏ (cấp vi mô), MLXH thân mật của một người đến nghiên cứu hệ thống (cấp vĩ mô) tập trung vào cấu trúc tổ chức xã hội và cộng đồng lớn hơn. Trong khi Blau cho rằng cấu trúc xã hội chi phối các MLXH, nhưng theo Burt (1980) MLXH là bản chất của cấu trúc xã hội. Coleman và Pescosolido cho rằng MLXH như là một cơ chế kết nối các cấp độ vi mô và vĩ mô của đời sống xã hội [trích theo 126].
13 Cấu trúc và tương tác xã hội là vấn đề trung tâm của xã hội học. Các nhà xã hội học White và Wilson cho rằng khi nghiên cứu về cấu trúc xã hội đã chuyển trọng tâm từ các phạm trù tĩnh như tuổi tác, giới tính, chủng tộc sang bản chất các QHXH của các cá nhân và ảnh hưởng của các mối QHXH đến cuộc sống của con người [146], [148], [149]. Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu về MLXH đều cho thấy có mối liên kết giữa MLXH với cấu trúc và tương tác xã hội. Về các loại MLXH, Các nhà nghiên cứu cho rằng MLXH của cá nhân không nhất quán trong tất cả các tình huống.
MLXH khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh và vấn đề. MLXH được phân loại theo nhiều cách khác nhau. Khi bàn về “cấu trúc xã hội của tự tử”, Durkheim (1951) đã đưa ra hai kiểu tương tác xã hội là đoàn kết và điều tiết xã hội. Chúng kết hợp với nhau để tạo nên bốn kiểu cấu trúc xã hội khác nhau: vô tổ chức, cuồng tín, vị tha, ích kỷ.
Ông cho rằng tự tử là một hiện tượng xã hội và liên quan đến sự đoàn kết xã hội, tức là tự tử phụ thuộc vào các mối liên hệ gắn kết giữa cá nhân với nhóm và sự điều tiết xã hội. Khi nghiên cứu sự dịch chuyển từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, Simmel đã đưa ra sơ đồ MLXH: xã hội nông nghiệp tương ứng với xã hội “tiền hiện đại” là các vòng tròn xã hội đồng tâm và xã hội công nghiệp tương ứng với xã hội “hiện đại” là các vòng tròn có sự giao thoa với nhau. Ông cũng nghiên cứu và mô tả hiệu quả ảnh hưởng của MLXH đối với cá nhân, nhất là cách thức hình thành cấu trúc nhân cách và niềm tin của cá nhân. Theo Blau và Giddens, MLXH tiền hiện đại thường mang tính bao bọc, tạo thuận lợi và cảm giác an toàn, sự đoàn kết, giảm thiểu những “căng thẳng” về tâm lý cho các cá nhân, nhưng không tiếp nhận thành viên mới vào MLXH [72], [92].
Nhưng Simmel cho rằng một cấu trúc MLXH như vậy lại hạn chế tự do, cá tính của cá nhân và sự đa dạng của MLXH. Blau cho rằng xã hội hiện đại được đặc trưng bởi các vòng tròn giao nhau. Ở đó, các cá nhân tham gia vào nhiều MLXH với nhiều mối quan hệ, nhưng có ít các quan hệ khăng khít và bền vững [72]. Theo Burt, giao điểm của các MLXH là nơi thể hiện cá tính độc đáo của cá nhân [73].
Khi MLXH làm cho các cá nhân thể hiện được tính độc đáo thì dễ tiếp 14 nhận thành viên mới vào MLXH. Mặt khác, theo Giddens các cá nhân phải đối mặt với sự không chắc chắn và ít nhận được sự hỗ trợ do có nhiều lựa chọn hơn [92]. Cách phân loại MLXH dựa vào xem xét các mối QHXH “mạnh mẽ” và các mối QHXH “yếu ớt” đặc trưng cho các mối quan hệ trong MLXH. Một cách khác để phân loại MLXH là chính thức hoặc không chính thức.
Theo Agadjanian, MLXH chính thức mô tả địa chỉ liên lạc là những cá nhân đóng vai trò tổ chức thông tin và thường xuyên tương tác với các thành viên khác trong môi trường có kế hoạch hoặc cấu trúc (ví dụ: các hệ thống y tế, chính phủ, giáo viên, người sử dụng lao động). Ngược lại, MLXH không chính thức thường là những liên hệ cá nhân bao gồm các nguồn thông tin ngẫu nhiên hoặc tự phát và tương tác thường xảy ra trong môi trường không có kế hoạch hoặc không có cấu trúc (ví dụ như gia đình, bạn bè hoặc người quen) [64]. Các mối QHXH của con người luôn là vấn đề trọng tâm của xã hội học. Sự ra đời của phương pháp tiếp cận cấu trúc luận về tương tác xã hội gắn với tác giả Georg Simmel (1908).
Điểm khác biệt cơ bản của Simmel với các nhà khoa học xã hội và triết lí khác về tương tác xã hội là: “Xã hội sinh ra từ cá nhân và các cá nhân sinh ra từ sự kết giao” [127]. Simmel khẳng định chính bản chất của các mối quan hệ chứ không phải là nhóm xã hội là trung tâm của hành vi con người. Theo Barabasi, các nghiên cứu MLXH theo truyền thống đã thành công trong việc tìm hiểu các hiện tượng của đời sống xã hội, nhưng không thể xem xét một cách riêng lẻ các hiện tượng của đời sống [66]. Trên cơ sở đó, tác giả lý luận về sức lan tỏa của Internet vốn đặt trọng tâm vào MLXH.
Tuy có quan niệm khác nhau, nhưng các tác giả đều cho rằng việc xem xét ảnh hưởng của MLXH đòi hỏi phải tìm hiểu sự tác động giữa ba khía cạnh: cấu trúc, nội dung và sự giao thoa giữa cấu trúc và nội dung của MLXH. Trong đó, cấu trúc của MLXH có thể ảnh hưởng đến số lượng, còn nội dung quy định hướng ảnh hưởng của MLXH. Về phương pháp nghiên cứu MLXH, những kĩ thuật đo lường các mối QHXH, sơ đồ hóa các mối quan hệ giữa các cá nhân đã được J. Moreno phát triển trong phương pháp “trị liệu liên nhân” trong lĩnh vực tâm thần học.
Moreno đã giới thiệu sơ đồ xã hội, đây là một kỹ thuật trực quan biểu thị các mối quan hệ giữa các chủ thể xã hội và trở thành công cụ phân tích chính trong kĩ thuật đo lường các mối 15 QHXH. Qua đó, cấu trúc của tình bạn, quan hệ lãnh đạo và quan hệ trong lớp học đã được làm rõ bằng hình ảnh. Mỗi vòng tròn đại diện cho cá nhân với các đường kết nối và đầu mũi tên cho biết nơi mối quan hệ đã được trao hoặc nhận. Tuy nhiên, khi đưa thêm yếu tố nhân khẩu-xã hội vào sơ đồ xã hội, hoặc khi các mối quan hệ dày đặc hơn, sơ đồ xã hội trở nên khó hiểu hơn.
Đó là tiền đề cho sự phát triển những kĩ thuật toán học để xử lí các MLXH lớn vào những năm 1940. Vào những năm 1970, Harrison White và cộng sự đã nhận ra các công cụ phân tích và khung lý thuyết có thể phù hợp với qui mô của các vấn đề liên quan đến cấu trúc xã hội. Họ đã sử dụng kĩ thuật đại số ma trận, lập cụm và mô hình hóa MLXH [trích theo 127]. Theo Pescosolido, phân tích MLXH dựa trên bốn cơ sở quan trọng.
Một là, cấu trúc quan hệ giữa các thành viên và vị trí của các cá nhân trong mạng lưới lưới xã hội có những hành vi quan trọng, nhận thức và thái độ đối với từng đơn vị và cho cả hệ thống. Hai là, MLXH được xây dựng từ tương tác xã hội, có thể là những tương tác thường xuyên hoặc tự phát. Ba là, MLXH có thể ảnh hưởng tích cực (ví dụ như hỗ trợ tinh thần) và tiêu cực (ví dụ như sự thống trị/kiểm soát) đối với hành vi cá nhân. Bốn là, MLXH nắm giữ những nội dung quan trọng như thông tin, niềm tin và “quy trình hành động” [130].
Nhìn chung, các nghiên cứu về MLXH tiếp cận quần thể nghiên cứu theo bốn cách khác nhau: xem xét toàn bộ MLXH hoàn chỉnh hoặc đầy đủ, lấy cá nhân làm trung tâm, tập trung vào HTXH và tìm hiểu về vốn xã hội. Hướng tiếp cận MLXH toàn bộ, hoàn chỉnh hoặc đầy đủ hướng vào mô tả và phân tích toàn bộ hệ thống MLXH. Đây là hướng nghiên cứu định lượng với cách tiếp cận thuần nhất. Trong đó, xem xét tất cả các mối quan hệ trong MLXH giữa các thành viên của một quần thể nghiên cứu cụ thể.
Điều này cho phép lập bản đồ của toàn bộ cấu trúc MLXH nói chung. Theo Pescosolido các MLXH đầy đủ đã được mô tả trong các gia đình điển hình hoặc có ảnh hưởng, trong các bệnh viện, các hệ thống hoạch định chính sách và trường học,. Phương pháp này yêu cầu phải liệt kê tất cả các thành viên của cấu trúc xã hội và xác định các mối quan hệ hoặc các ràng buộc giữa các thành viên. Sau đó, tiến 16 hành thu thập dữ liệu từ tất cả các thành viên của quần thể nghiên cứu.
Nếu có giả định phải điền dữ liệu thất lạc, thì giải pháp này không chắc đúng khi tỷ lệ trả lời điều tra giảm đi thậm chí đến mức được coi là chấp nhận được đối với những phiếu điều tra không nhận được câu trả lời.