Chương liI KHÍ CHẤT Khí chất là những phẩm chất đặc biệt, có tính chất điển hình đối với người nảo đó và được thể hiện trong quá trình phát triển, trong sự hoạt động của cá nhân. Hành vi không chỉ phụ thuộc vào điều kiện xã hội mà còn phụ thuộc vào sự tổ chức thân kinh đặc biệt của cá nhân. Khí chất được bộc lộ rất sớm và rõ ràng ngay từ lứa tuổi mầm non trong khi chơi, khi học và trong quan hệ tiếp xúc. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KHÍ CHẤT 4.
Vài nét về lịch sử nghiên cứu khí chất Từ lâu các nhà tâm lí học đã chú ý đến những sự khác nhau có tính chất cá biệt trong hành vi của con người. Ngay từ thời cổ đại, những người có kinh nghiệm đã ghi nhận rằng. có những "hình ảnh hành vi" tiêu biểu cho một cá nhân. Trong một tình huống nào đó, một người có những đặc tính hành vi nhất định sẽ hành động chỉ như thế nây mà không như thế khác.
Những người Ấn Độ cổ đại theo chủ nghĩa khổ hạnh từ chối hoạt động thể lực, tính lực đã nêu nên một số quy luật trong sự khác nhau cá biệt của những người tách rời khỏi sự vận động. Họ đã cố gắng "tới gần thượng đế” bằng cách nằm hoặc đứng bất động hàng thang trong bai lay đồng thời ngẫm. nghĩ về “cái tôi” của mình. Họ cho rằng người mà trong cuộc sống hàng ngày luôn nóng nảy, dé cảm xúc thì hoàn toàn không thể chịu được sự cố tình từ bỏ cảm xúc trong lúc im lặng, 181 không vận động (tức cái gọi là “chủ nghĩa khổ hạnh bên trong”).
Còn những người rơi vào trạng thái xúc cảm (ý bệnh - histerin) là những người giữ được thăng bằng đễ chịu đựng hơn “chủ nghĩa khổ hạnh bên trong” như vậy. Ngay ở Hi Lạp cổ đại, để chỉ những đặc điểm cá biệt của cá nhân, người ta đưa ra thuật ngữ khứ cñấf (temperament). Lịch sử còn ghỉ lại tên tuổi Hipocrat (377 - 460 TCN) - một bác sĩ Hí Lạp - người đã phát hiện ra các khí chất. Những công trình nghiên cứu chứng mỉnh rằng Hipocrat đã chỉ có một tư tưởng là có bốn chất lỏng trong cơ thể người ta và tỉ lệ khác nhau của các chất đó là cái quyết định hành vi của con người.
- Mét bac si La Ma 1a Galen (130 - 250 TCN) đã hoàn thiện kĩ thuật của Hipocrat và phân loại con người thành bốn loại tương ứng với bốn khí chất. Các bác sĩ Hi Lạp - La Mã cổ đại đêu cho rằng mỗi một khí chất đều phụ thuộc vào tỉ lệ giữa máu, chất nhây và mật trong cơ thể người ta. Họ đã nêu lên các đặc tính sau đây của khí chất cơ bản. + Kiểu linh hoạt.
Theo ý kiến của các bác sĩ điều đó thể hiện tiêu biểu ở sự có nhiều máu trong co thé. Kiểu này dé thay đổi sự quyến luyến, thói quen. Tâm trạng của người kiểu này dễ chuyển sang các trạng thái có tính chất khác nhau. Người kiểu khí chất linh hoạt là người yêu đời, nhanh nhẹn, nhanh trí, nhưng ít kiên nhãn.
+ Kiểu sôi nổi là kiểu có số lượng mật vàng tiết ra nhiều. Vì vậy, cảm xúc của người kiểu này biểu hiện rất rõ, nhất là các cảm xúc xấu. Người kiểu khí chất này sôi nổi, thường hay nóng nảy mặc dù sự nóng nảy qua đi rất nhanh. Người kiểu này rất nhanh nhẹn, rất có nghị lực và rất kiên quyết.
Khi vui sướng hay đau khổ họ đều có rung động sâu sắc. 162 + Kiểu điểm tĩnh: Trong cơ thể người thuộc kiểu điểm tĩnh có nhiều nước nhớt. Đặc điểm chủ yếu của kiểu này là kém. nhanh nhẹn, hưng phấn, cảm xúc yếu.
Tuy vậy, thái độ bình tĩnh và kiên định đối với hiện thực thường là điều tốt. Người điểm tĩnh thường khó bị mất bản lĩnh. Thói quen và kĩ xảo của người kiểu này rất cố định và khó thay đổi. + Kiểu ưu tư: Trong cơ thể mà người kiểu này có nhiều mật đen hơn.
Cảm xúc của người kiểu này mang tính chất mềm yếu. Bất kì một thất bại nào cũng gây ra ức chế. Người kiểu này hầu như luôn luôn u sẩu. Tất cả mọi rung động ở người kiểu này đều xảy ra chậm chạp, nhưng khí sắc, tâm lí của người kiểu này dễ bị thương tổn.
Trong đại đa số trường hợp những người kiểu này đều tỏ ra thụ động và tò mò. Đến nay khoa học đã có những bước tiến vượt bậc nhưng, những nét tiêu biểu của các kiểu khí chất được các nhà tư tưởng Hi Lạp - La Mã cổ đại mô tả là khá chính xác, đúng đắn về mặt tâm lí và ngày nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa của mình. Paplov - nha sinh học vĩ đại của Nga đã tìm thấy trong sự hoạt động cao cấp của não, một cơ quan có “điều chỉnh mọi hiện tượng xảy ra trong cơ thể”? mà ở đó “ta có thể biết về toàn bộ cơ thể cùng với mọi thành phần của nó"? cơ quan “những mối liên hệ phức tạp nhất của động vật với thế giới bên ngoài”?! và cuối cùng, là cơ quan phản ánh thế giới bên ngoài hoạt động của cơ quan này được thực hiện theo nguyên tắc liên hệ thần kinh tạm thời mà “liên hệ tạm thời là hiện tượng sinh lí rất phổ biến trong giới động vật và ngay trong chính chúng ta. Đồng thời chính nó cũng là hiện tượng tâm lí”).
Tập 2, NXB Giáo dục. 163 Bằng phương pháp phản xạ có điểu kiện L. Paplov đã khám phá ra những quy luật của hoạt động thần kinh cấp cao và những thuộc tính cơ bản của quá trình thần kinh. Những thuộc tính cơ bản của quá trình đó là: + Cường độ của những quá trình thân kinh cơ bản: hưng, phấn và ức chế.
+ Sự cân bằng của những quá trình này. + Tính linh hoạt của chúng. Cường độ của quá trình thần kinh là chỉ số chứng tỏ năng lực làm việc của những tế bảo thần kinh vả của hệ thần kinh nói chung. Hệ thần kinh mạnh chịu đựng rất nhiều tác động và trong thời gian dài, trong khi đó hệ thần kinh yếu trong những điều kiện đó sẽ bị sứt vỡ"0).
Tính cân bằng là sự cân đối nhất định của quá trình hưng phấn và ức chế. Tính linh hoạt là độ nhanh khi chuyển từ một quá trình này sang một quá trình khác để đảm bảo thích ứng với những, thay đổi đáng kể và đột ngột của hoàn cảnh. Như vậy, ba thuộc tính cơ bản của hệ thần kinh trong phân loại của Paplov khi được phối hợp với nhau theo các cách khác nhau sẽ tạo nên bốn kiểu hoạt động thần kinh cấp cao ảnh hưởng đến bốn khí chất. Theo Paplov có bốn kiểu thân kinh cơ bản: - Kiểu mạnh - cân bằng - lĩnh hoạt, cơ sở sinh lí cho khí chất linh hoạt.
- Kiểu mạnh - cân bằng - không linh hoạt, cơ sở sinh lí cho khí chất điểm tĩnh. Trích từ A. Covaliov, Tâm lí học, tập 2, NXB Giáo dục 1971, tr 7. 164 - Kiểu mạnh - không cân bằng, cơ sở sinh lí cho khí chất sôi nổi.
- Kiểu yếu (hưng phấn và ức chế đều yếu), cơ sở sinh lí cho khí chất ưu tư. Những kiểu thần kinh này có chung ở động vật và người. Kiểu hình thần kinh biểu hiện ở trường lực của phản ứng, ở sự cân bằng, sự nhanh nhẹn trong hành vi. Bốn kiểu thần kinh trên không bao hàm tất cả những hình thức cá biệt muôn hình muôn vẻ của hoạt động thần kinh cấp cao của cá nhân.
Những kiểu này là những“ "kiểu điển hình, thường hay gặp nhất và nổi bật nhất mà thực tế đã thể hiện một cách rõ ràng” © va do la những kiểu cơ bản. Ngoài ra còn có những kiểu chuyển tiếp và những hình thức trung gian giữa các kiểu trên. Những kiểu chuyển tiếp và những hình thức quá độ và cuối cùng là những kiểu hoạt động hệ thần kinh cấp cao bộ phận có thể là kết quả của những tư chất nhất định, chúng có thể được hình thành từ những kiểu cơ bản trong quá trình sống của cá thể. Paplov cũng chỉ ra rằng, nếu nói đến kiểu tự nhiên của hệ thần kinh thi cân phải tính đến mọi ảnh hưởng tác động vào cơ thể.
Theo ông có thể có một kiểu trong đó quá trình hưng phấn mạnh và quá trình ức ch yếu hoặc là có một biến thái khác mà cả hưng phấn và ức chế đều mạnh nhưng hưng phấn trội hơn (biến thái trung tâm thường thấy) và cuối cùng bikn thái thứ ba trong đó cường độ của quá trình hưng phấn và ức chế đạt đến một mức độ yếu như nhau, có nghĩa là cường độ được cân bằng. Khái niệm khí chất a. Định nghĩa: Khí chất là thuộc tính tâm lí phức hợp của cá nhân biếu hiện ở cường độ, nhịp độ của các hoạt động tâm lí thể hiện sắc thái của hành ví, cử chỉ, cách nói năng của cá nhân. Tam lí học cá nhân, NXB Giáo dục 1971, tr, 9 165 Định nghĩa trên cho thấy hành vi không chỉ phụ thuộc vào điêu kiện xã hội mà còn phụ thuộc vào sự tổ chức thần kinh đặc biệt của cá nhân.
Để hiểu rõ hơn khái niệm khí chất, cần chú ý một số điểm sau: - Khí chất gắn liên với kiểu hoạt động thần kinh của con người, là sự biểu hiện cụ thể ra bên ngoài về cường độ, tốc độ, nhịp độ các hoạt động tâm lí của con người. - Khí chất là động lực của hành vi cá nhân, nhưng nó chỉ quyết định về cường độ, tốc độ của hành vi chứ không quyết định nội dung của hành vi (như xu hướng, nguyện vọng, tình cảm, ý chí. - Nói đến khí chất là nói đến ông lực của toàn bộ hành vi cá nhân, nghĩa là không chỉ nói đến động lực của từng quá trình tâm lí riêng lẻ, từng hoạt động cụ thể trong một phạm vi nhất định nào đó, mà nói đến đặc trưng chung nhất về cường độ, nhịp độ của toàn bộ hành vi cá nhân, là động lực tương đối bên vững trong cả cuộc đời của cá nhân. Những thuộc tính cơ bản của khí chat - Tính nhạy cảm: một lực tác động, bên ngoài nhỏ nhất đủ để gây một phản ứng tâm lí nào đó.
- Tính phản ứng, tính dễ xúc cảm: chức năng của tính chất này được xác định bởi sức mạnh của phản ứng cảm xúc của con người đối với các tác nhân kích thích bên ngoài vả bên trong. = Tinh dé khang: là sự chống lại các điều kiện không thuận lợi làm ức chế hoạt động.