CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG pháp luật hình sự. Song trước hết, nó vẫn được nhìn nhận, đánh giá là một vụ TNGTĐB với đầy đủ đặc điểm, dấu hiệu để nhận biết về nó. - TNGTĐB là một dạng tai nạn xã hội, được thực hiện bởi các hanh vi cu thé của con người (các hành ưi này có thể ui phạm hoặc không ti phạm các quy định của luật lệ giao thông), nhưng trên thực tế nó đã trực tiếp tực gián tiếp gây ra những thiệt hại nhất định cho xã hội.
Trong vụ TNGTĐB, hậu quả gây thiệt hại nhất định cho xã hội là yếu tố bắt buộc, là cấn thành cơ bản của vụ TNGTĐB và nó phải có quan hệ nhân quả với các hành vi gây tai nạn của một chủ thể nào đó. Vì vậy, việc xem xét hậu quả của vụ tai nạn là cơ sở để xác định: trên thực tế vụ TNGTĐB đã xảy ra chưa, ai là người thực hiện hành vi gây tai nạn, tính chất mức độ nguy hiểm của vụ TNGTĐB là “đáng kể” hay “chưa đáng kể”, cần truy cứu trách nhiệm hình sự hay xử lý hành chính với những người có lỗi trong vụ tai nạn. Đáng chú ý, vụ TNGTĐB phải hoàn toàn mang tính bất ngờ, “ngẫu nhiên”, nằm ngoài ý muốn chủ quan của cả người gây tai nạn, người bị hại và những người xùng quanh (trừ trường hợp buộc phải gây tai nạn trong các “tình thế cấp thiết” theo luật định). Đây là cơ sở khoa học để phân biệt sự khác nhau giữa vụ TNGTĐB với một số tội phạm cố ý có liên quan đến hoạt động giao thông (giết người, cố ý gây thương tích, cố ý huỷ hoại tài sản,.
bằng các phương tiện giao thông). - Trong uụ TNGTĐB, chủ thể trực tiếp thực hiện hành tí cuối cùng phải là các đối tượng đang tham gia hoạt động giao thông uà hậu quả của uụ TNGTĐB phổi do chính các hoạt động giao thông cụ thể của họ gây nên. Trong thực tế, một vụ TNGTĐB xảy ra thường do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, đan xen cùng tác động. Vì vậy, việc xác định lỗi của các bên liên quan đến vụ tai nạn và nhất là xác định chủ thể trực tiếp thực biện hành vi cuối cùng trong vụ TNGTĐB có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để xác định đó có phải là vụ TNGTĐB hay không, ai là người có lỗi trong vụ tai nạn.
Hiện nay, khi phân tích diễn biến của vụ TNŒTĐB, nhiều người vẫn đồng nhất _ giữa người thực hiện hành vi cuối cùng trong vụ tai nạn với người có lỗi trong vụ tai nạn đó. Nhận định như vậy sẽ dẫn đến việc phân tích sai quá trình diễn biến của vụ tai nạn và quy kết trách nhiệm sai cho các bên có liên quan đến vụ tai nạn. Chẳng hạn, một cháu bé trèo lên nóc xe ô tô đang đỗ đúng luật ở bên đường, chẳng may trượt chân ngã xuống đường. Rõ ràng đã hình thành vụ tai nạn, nhưng đó không phải là vụ TNGTĐB, vì việc ngã của cháu bé không phải do một hoạt động giao thông cụ thể gây ra hoặc cũng tương tự như vậy, một người bất ngờ xuất hiện sau vật cản chạy sang đường, nhưng lại bị tác động vật chất khác gây chấn thương (gạch, đá ném, thuỷ tỉnh, rác đổ vào đầu, .), tai nan da xay ra, nhưng đó cũng không phải là TNGTĐB.
Song cũng ở trong các trường hợp tương tự như vậy, nếu họ bị các phương tiện giao thông đang hoạt động, do không kịp phòng tránh đâm phải, thì đó lại là vụ TNGTĐB, và người điều khiển phương tiện giao thông là người thực biện hành vi cuối cùng trong vụ tai nạn đó. Như vậy, chủ thể của vụ TNGTĐB có thể là bất kỳ ai đang hoạt động giao thông gây ra. NHỮNG VẤN DE CHUNG - Đối tượng gâu ra TNGTĐB chỉ có thể có lỗi uô ý (quá tự tin hoặc cấu thả) hoặc không có lỗi khi thục hiện hanh vi géy tai nan. Trên cơ sở lý luận của khoa học hình sự thì “lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và, đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý”.
Đồng thời, xuất phát từ bản chất của TNGTĐB - là sự việc xảy ra bất ngờ, ngoài ý muốn chủ quan của con người nên các yếu tố như: thời gian, địa điểm gây TNGTĐB và TNGTĐB gây ra cho ai, thiệt hại như thế nào,. đều mang tính ngẫu nhiên, không biết trước được. Người gây ra TNGTĐB trước đó hoàn toàn không có động cơ, mục đích gây ra TNGTĐB. Tuy nhiên TNGTĐB luôn gắn liền và chịu sự chỉ phối bởi các hoạt động có ý thức của các bên có liên quan đến vụ TNGTĐB.
Thông thường, khi vụ TNGTĐB xảy ra, trừ một số trường hợp thuộc “tình thê cấp thiết” người gây TNGTĐB không có lỗi, còn phần lớn đều do sự chủ quan, cẩu thả, không chấp hành luật lệ giao thông (LLGT) của các đối tượng tham gia giao thông, lỗi kỹ thuật của phương tiện hoặc hạ tầng giao thông. Họ nhận thức được điều đó nhưng vì “chủ quan, cẩu thả, quá tự tin” cho rằng TNGTĐB không xảy ra hoặc họ có thể phát hiện và xử lý kịp thời các tình huống đột xuất. Chính vì vậy, khi TNGTĐB xảy ra, họ hoàn toàn bất ngờ (và vụ TNGTĐB cũng nằm ngoài sự mong muốn của người khác). Trong những trường hợp này họ đã gây ra TNGTĐB do lỗi vô ý vì “cấu thả” hoặc “quá tự tin”.
Trên đây là những đặc tính cơ bản của TNGTĐB. Những đặc tính đó luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành một cấu trúc ổn định, khắc hoạ rõ nét những dấu hiệu mang tính bản chất của TNGTĐB, đồng thời đó cũng là cơ sở khoa. học để xác định chính xác những vấn đề cần chứng minh, kết luận trong quá trình điều tra xử lý TNGTĐB. Phân loại tai nạn giao thông đường bộ Phân loại TNGTĐB có vai trò rất quan trọng không những trong hoạt động phòng ngừa, thống kê báo cáo về TNGTĐB mà cả trong hoạt động điều tra, giải quyết TNGTĐB.
Qua đó giúp ta biết được tính chất, mức độ của TNGTDB. Trên cờ sở đó chúng ta có căn cứ pháp lý để tiến hành điều tra TNGTĐB đúng trình tự, thủ tục. Ngoài ra, đây còn là cơ sở để xác định chính xác chủ thể tiến hành điều tra TNGTĐB theo đúng quy định của pháp luật. Có nhiều cách phân loại TNGTĐB với các tiêu chí khác nhau: theo chủ thể gây tai nạn; tính chất giao thông; loại đường, luồng hoặc theo loại phương tiện; :.
Tuy nhiên, việc phân loại theo thiệt hại về vật chất là phù hợp với thực tiễn nhất. Trên thực tế việc phân loại TNGTĐB ở mỗi thời điểm, khoảng thời gian khác nhau cũng như mục đích, yêu cầu của hoạt động điều tra TNGTĐB trong từng giai đoạn đó thì TNGTĐB cũng được phân loại khác nhau trên cơ sở những văn bản pháp luật tương ứng. Từ tháng 6/2006 đến tháng 10/ 2009, việc phân loại TNGTĐB dựa trên quy định Quyết định 768/2006/QĐ-BCA, ngày 20/6/2006 của Bộ trưởng Bộ công an 6 CHUONG 1. NHUNG VAN DE CHUNG phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp giữa các lượng CSND, TNGTĐB được phân thành ð loại: (1) Va chạm giao thông; (2) Tai nạn giao thông ít nghiêm trọng; (3) Tai nạn giao thông nghiêm trọng; (4) Tai nạn giao thông rất nghiêm trọng; (5) Tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng.
Từ tháng 10/ 2009 đến nay, việc phân loại TNGTĐB dựa trên cơ sở quy định của Thông tư số 58/2009/TTT- BCA, ngày 28 tháng 10 năm 2009 của Bộ công an về: “Quy định và hướng dẫn thống kê, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu, cung cấp thông tin về TNGTĐB”. Cụ thể, các loại tai nạn giao thông đường bộ gồm: - Va, chạm giao thông; - Vụ tai nạn giao thông gây hậu quả ít nghiêm trọng; - Vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng; - Vụ tai nạn giao thông gây hậu quả rất nghiêm trọng: - Vụ tai nạn giao thông gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. a) Va cham giao thông Va cham giao thông là sự việc xảy ra do người tham gia giao thông dang hoạt động trên mạng lưới giao thông đường bộ vi phạm các quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ hay gặp phải sự cố bất ngờ gây thiệt hại đến sức khỏe của con người hoặc gây thiệt hại về tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân dưới mức quy định của vụ tai nạn giao thông gây hậu quả ít nghiêm trọng. b) Tai nạn giao thông gâu hậu quả ít nghiêm trọng Gây hậu quả ít nghiêm trọng trong vụ tai nạn giao thông là một trong các trường hợp sau: - Gây tổn hại cho sức khỏe của một È người với tỷ lệ thương tật từ 11 % đến dưới 31 %; - - Gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 11 % nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 21 % đến.
dưới 41 %; - Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng. c) Tai nan giao thông géy hậu quả nghiêm trọng Gây hậu quả nghiêm trọng trong vụ tai nạn giao thông là một trong các trường hợp sau: - Làm chết một người; - Gây tổn hại cho sức khỏe của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31 % trở lên; - Gây tổn hại cho sức khỏe của.nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31 %, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả¿ những người này từ 41 % đến 100 %; - Gây tổn hại cho SỨC khỏe của một người với tỷ lệ thương tật từ 21 % đến 30 % và gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới nămr - mươi triệu đồng; - Gây tốn hại cho sức khỏe của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21 %, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30 % đến 7 CHUONG 1. NHUNG VAN DE CHUNG 40 % và gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng; - Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng.