Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ GIAO THÔNG VẬN TẢI TỈNH BÌNH ĐỊNH TRƯỚC THẾ KỈ XIX 1. Các yếu tố tác động đến sự hình thành, phát triển giao thông vận tải Bình Định 1. Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên Giao thông vận tải Bình Định chịu sự ảnh hưởng rất lớn của vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên. Bình Định là một trong những tỉnh lớn thuộc duyên hải miền Trung của Việt Nam, diện tích tự nhiên phần lục địa của tỉnh là 6073 km2, đứng thứ 2 trong số các tỉnh thuộc Duyên hải Nam Trung bộ, sau tỉnh Quảng Nam, đứng thứ 22 cả nước Việt Nam.
Lãnh thổ của tỉnh dài 110km theo hướng bắc - nam và chiều ngang hẹp trung bình 55km (chỗ hẹp nhất là 50km, chỗ rộng nhất là 60km). Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, có đường biên giới chung là 63km; phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, có chung đường biên giới 130km; phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 134km. Địa thế Bình Định vào thế kỉ XIX được nhận xét: Phía Đông giáp biển, phía Tây tiếp động núi. Đèo Bến Đá chặn phía Bắc, núi Cù Mông ngăn phía Nam.
Các con sông lớn là sông Tam Huyện và sông Lại Giang như chiếc đai, vạt áo che chắn. Dọc theo miền biển thì có các đồn cửa biển Thị Nại, Kim Bồng để giữ yên mặt biển. Ruộng đất thì phì nhiêu, màu mỡ; dân cư trù mật, xe thuyền tụ tập,… thực là một trấn lớn xung yếu [33, tr. Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ tây sang đông.
Phía tây của tỉnh là vùng núi, rìa phía đông của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và vùng đồng bằng, ven biển. Vùng rừng núi chiếm 70% diện tích của tỉnh. Ở thế kỉ XIX, sách “Đại Nam nhất thống chí” đã liệt kê hơn 45 núi cao, phân bố khắp địa bàn tỉnh, có vai trò quan trọng đối với cư dân Bình Định như núi Phước An, An Tượng, Trụ Lĩnh, Bản Sơn, Cù Mông, Hàm Long, Kỳ Sơn, Bích Khe, Càn Dương,… ngoài ra còn có nhiều dãy núi ăn ra sát biển như: dãy núi Đá Lửa, Lại Khánh, Đầu Trường, Gò Chai, Ông Táo,.… Vùng đồi chiếm 14 khoảng 10% diện tích tự nhiên, xen lẫn vào đó là các vùng đồng bằng bị đồi núi chia cắt thành các vùng đồng bằng nhỏ hẹp, song cũng có những cánh đồng lớn của miền Trung. Đây là địa bàn cư trú của phần lớn cư dân Bình Định.
Các đồng bằng chủ yếu tập trung ở thị xã Hoài Nhơn, thị xã An Nhơn, huyện Tuy Phước, Tây Sơn, Phù Cát. Vùng ven biển có nhiều đầm (Trà Ổ, Nước Ngọt, Thị Nại,…), vịnh (Làng Mai, Quy Nhơn, Vũng Mới. Hiện tại, ngoại trừ cửa Quy Nhơn và cửa Tam Quan khá ổn định, còn các cửa An Dũ, Hà Ra, Đề Gi luôn có sự bồi lấp và biến động. Tài nguyên khoáng sản ở Bình Định không nhiều.
Một số loại khoáng sản từ sớm được cư dân Bình Định phát hiện và khai thác như cát thuỷ tinh, vàng, sắt, sét gạch ngói, các loại đá xây dựng, diêm tiêu,… Cát dùng để xây dựng ở Bình Định tương đối phong phú và dễ khai thác, phân bố hầu khắp các vùng sông suối trong tỉnh. Riêng cát làm thuỷ tinh chủ yếu phân bố ở huyện Tây Sơn, vàng ở huyện Hoài Ân, Tây Sơn, Vĩnh Thạnh; sắt tập trung ở thị xã Hoài Nhơn và Phù Cát nhưng trữ lượng thấp; diêm tiêu ở huyện Phù Mỹ; đá xây dựng phân bố ở hầu khắp các địa phương trong tỉnh. Các sông trong tỉnh đều bắt nguồn từ những vùng núi cao của sườn phía đông dãy Trường Sơn. Sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sa thấp.
Ở thượng lưu có nhiều dãy núi bám sát bờ sông nên độ dốc rất lớn, lũ lên xuống rất nhanh, thời gian truyền lũ ngắn. Trong tỉnh có bốn con sông lớn là sông Côn, Lại Giang, La Tinh và Hà Thanh cùng các sông nhỏ như Châu Trúc hay Tam Quan,…. Bình Định còn có nhiều con suối phân bố hầu khắp địa bàn tỉnh. Hệ thống sông suối trong tỉnh vừa mang lượng phù sa hàng năm bồi đắp cho đồng ruộng vừa là nguồn cung cấo nước quan trọng cho nền sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của người dân.
Biển Đông có ảnh hưởng lớn đến điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội Bình Định. Khu vực bờ biển và thềm lục địa tỉnh có diện tích khoảng 36.000 km 2, lớn gấp 6 lần diện tích tự nhiên của tỉnh. Dọc ven bờ biển có 32 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó lớn nhất là đảo Cù Lao Xanh. Không tính các đường bờ của hải 15 đảo, bán đảo, bờ biển Bình Định dài 134km, chạy từ của Tam Quan đến tận chân đèo Cù Mông.
Do tác động nhô ra của các dãy núi và của quá trình thuỷ văn động lực của biển, góp phần tạo nên nhiều đầm phá ở ven biển, vừa thuận lợi cho giao thông đường thuỷ, thuận lợi cho phát triển ngư nghiệp. Những ghi chép trong “Đại nam nhất thống chí: Tỉnh Bình định” cho thấy ở thế kỉ XIX, số đầm trong tỉnh khá nhiều: Thị xã Hoài Nhơn có các đầm Tân Quan Hải Đông, An Dụ Hải Đông, An Dụ Vịnh Sơn; huyện Phù Mỹ có đầm Trà Ổ, Bình Hồ Hải Đông; huyện Phù Cát có đầm Đạm Thuỷ, đầm Đề Gi Hải Đông; huyện Tuy Phước có đầm Thị Nại, Tiêu Ki Hải Đông, San Hô Hải Đông,… Gắn liền với các sông, đầm là các cửa sông, cửa biển thuận lợi cho giao thông đường thuỷ. Cửa sông có cửa Tam Quan, An Dụ, Hà Ra, về của biển có cửa Đề Gi và cửa Thị Nại. Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa.
Do sự phức tạp của địa hình nên gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều. Trong thế kỉ XIX, khí hậu Bình Định được ghi chép như sau: Đầu mùa xuân, khí hậu ôn hòa. Tháng 2, tháng 3, khí trời đã như mùa hạ. Mùa hạ thì nóng nhiều, gió nam thổi mạnh, cây cỏ khô vàng.
Mùa thu mới có gió tây nhưng nắng cũng chưa dịu. Cuối thu qua đông thường có mưa dầm, tháng mùa đông mới thấy hơi mát [33, tr. Có thể thấy, điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình.) đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển giao thông vận tải, kinh tế - xã hội của tỉnh. Bình Định được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên, vùng nam Lào và đông bắc Cam-pu-chia.
Vị trí địa lí ảnh hưởng, quy định sự có mặt, vai trò của một số loại hình giao thông vận tải ở tỉnh Bình Định. Trong thế kỉ XIX, hệ thống giao thông vận tải Bình Định cũng rất đa dạng, bao gồm cả hệ thống đường bộ và đường thuỷ (đường sông, đường biển). Ở Bình Định, bên cạnh giao thông vận tải đường bộ, do địa lý tự nhiên nổi bật với nhiều sông, suối, hồ, đầm và đường bờ biển dài, nhiều vũng vịnh, thuận lợi cho tàu thuyền neo đậu đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển giao thông, vận tải bằng đường thủy. Ngay từ rất sớm, cư dân tỉnh Bình Định đã biết dựa vào 16 ưu thế về điều kiện tự nhiên để mở rộng giao lưu buôn bán với các vùng trong tỉnh cũng như các vùng phụ cận (Quảng Ngãi, Phú Yên, Gia Lai) thậm chí với Hội An, Đà Nẵng và với các nước bên ngoài.
Địa hình phức tạp, nhiều núi cao, ăn sâu ra biển, đồng bằng nhỏ hẹp cũng ảnh hưởng lớn đến việc khai thác và sử dụng các các công trình giao thông vận tải. Bình Định tuy không có hệ thống sông lớn nhưng có bờ biển dài, thích hợp cho việc phát triển giao thông vận tải đường thủy, hình thành các cảng khẩu, thương cảng. Mạng lưới sông ngòi dày đặc, đường bờ biển dài, nhiều cảng, vũng vịnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành vận tải đường thủy bao gồm cả đường sông và đường biển. Chính vì thế, ở Bình Định, vận tải đường thủy nhất là đường biển khá phát triển, có khối lượng vận chuyển hàng hóa lớn.
Dù vậy, mạng lưới sông ngòi dày đặc, độ dốc cao lại không thuận lợi cho các loại hình vận tải khác, nhất là vận tải đường bộ, đòi hỏi phải làm nhiều cầu, cống, tốn kém về kinh phí, nhân lực và dễ gây tắc nghẽn giao thông trong mùa mưa lũ. Các yếu tố khác như thời tiết, khí hậu, khoáng sản,… cũng ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển giao thông vận tải của địa phương, đặc biệt là ảnh hưởng đến sự phân bố nguồn hàng hóa, hoạt động của phương tiện vận tải. Điều kiện chính trị, kinh tế và dân cư Trên nền tảng của quốc gia thống nhất, chính quyền ngày càng được củng cố vững chắc, trong nửa đầu thế kỉ XIX, triều Nguyễn đã có nhiều chính sách để phát triển đất nước. Những chính sách của triều Nguyễn về kinh tế, phát triển giao thông thủy, bộ … đã tác động rất lớn đến kinh tế hàng hóa nói chung và hoạt động vận tải hàng hóa nói riêng.
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, mặc dù triều Nguyễn đã xây dựng, tổ chức một chính quyền dân sự thích ứng và hiệu quả; song nhìn chung, triều Nguyễn đã không cứu vãn được tình thế khủng hoảng suy sụp của chế độ phong kiến quan liêu chuyên chế. Mặt khác, triều Nguyễn còn mắc một số sai lầm quan trọng về ứng xử ngoại giao trong bối cảnh của chủ nghĩa thực dân ở thế kỉ XIX. Cuối cùng, việc áp đặt chủ nghĩa thực dân của người Pháp trên toàn bộ lãnh thổ Đại Nam vào nửa sau thế kỉ XIX là điều không tránh khỏi. 17 Cuối thế kỉ XIX, những chuyển biến trong đời sống chính trị, kinh tế-xã hội do sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân Pháp vào Việt Nam đã ảnh hưởng đến hoạt động giao thông vận tải cả nước nói chung, giao thông vận tải tỉnh Bình Định nói riêng.
Hệ thống giao thông ở tỉnh Bình Định được thực dân Pháp từng bước xây dựng và nâng cấp. Đặc biệt, chính quyền thực dân rất quan tâm và chú ý khai thác tuyến giao thông biển. Gắn với những chính sách, biện pháp của chính quyền thực dân, hoạt động vận tải (chủ yếu là vận tải hàng hóa) bằng đường biển ở tỉnh Bình Định cũng được mở rộng, xuất nhập khẩu ở cảng Quy Nhơn diễn ra nhộn nhịp với khối lượng hàng hóa lớn; các loại hàng hóa vận tải cũng đa dạng, phong phú. Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ của các ngành kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp ở Bình Định trong thế kỉ XIX cũng tác động lớn đến sự phát triển giao thông vận tải của địa phương.