Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và tình hình phát triển công nghiệp hỗ trợ công nghiệp điện tử. Chương 2:Khung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Sự phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ công nghiệp điện tử tại tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua Chương 4: Một số đề xuất nhằm phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ công nghiệp điện tử tỉnh Bắc Ninh 3 z Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ CÔNG NGHIỆP ĐIỆN TỬ 1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.1 Nhóm công trình khoa học lý luận chung về công nghiệp hỗ trợ và vai trò của công nghiệp hỗ trợ Vào năm 1990, giáo sư Michael Porter của Trường Kinh doanh Havard đã cho xuất bản những kết quả của một nỗ lực nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm hiểu tại sao một số nước lại thành công còn một số khác lại thất bại trong cạnh tranh quốc tế. Ông đã xây dựng lý thuyết về bốn thuộc tính lớn của một quốc gia hình thành nên môi trường cạnh tranh cho các công ty tại nước đó, và những thuộc tính này thúc đẩy hoặc ngăn cản sự tạo ra lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó, trong 4 thuộc tính đó ông có đề cập đến một thuộc tính quan trọng đó là: Các ngành hỗ trợ và liên quan, ông chỉ ra rằng đây là sự hiện diện hoặc không sẵn có của các ngành hỗ trợ và liên quan có năng lực cạnh tranh quốc tế. Trong những năm 1960-1980, ở Nhật Bản xuất hiện một “hệ thống nhà cung cấp kiểu Nhật”, thể hiện mối quan hệ giữa các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp hỗ trợ chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) và nó cũng gắn liền với khái niệm các nhà thầu phụ.
Mối quan hệ này được nhắc đến như một “KEIRETSU” (chuỗi thương mại).Và vào giữa những năm 1980, khái niệm công nghiệp hỗ trợ (CNHT) chính thức được đưa ra. Thông qua báo cáo điều tra phát triển công nghiệp về ngành công nghiệp hỗ trợ có tên “Investigation report for industrial development: Supporitng industry secto”, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), (1995), đã chỉ ra vai trò và thực trạng ngành CNHT, mối liên hệ và tính liên kết trong sản xuất các sản phẩm cũng như các yếu tố thúc đẩy CNHT Nhật Bản phát triển. Tổ chức năng suất Châu Á (Asian productivity Organisation), (2002), với nghiên cứu “Strengthening of supporting industries: Asian Experiences” (Đẩy mạnh CNHT: các kinh nghiệm của Châu Á). Là một tài liệu đúc kết kinh nghiệm phát 4 z triển CNHT, tập trung phân tích chính sách phát triển CNHT qua các thời kỳ ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, từ đó chỉ ra vai trò quan trọng của các chính sách bằng việc tập trung vào phân tích vai trò thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển CNHT.
Jetro vào năm 2004 đã đưa ra báo cáo nghiên cứu về vấn đề “xây dựng và tăng cường ngành CNHT ở Việt Nam”, báo cáo khẳng định rằng CNHT ở Việt Nam đã hình thành nhưng nhận thức của chính phủ và khối doanh nghiệp là chưa cao trong khi đó khối doanh nghiệp FDI đang là thành phần nắm bắt thời cơ và đi trước. Vai trò của hệ thống thầu phụ cũng được khẳng định mạnh mẽ ở Thái Lan, Indonesia, Malaysia khi những đất nước này đã sử dụng hệ thống thầu phụ như những vệ tinh của các doanh nghiệp lắp ráp Nhật Bản. Trên tạp chí Công nghiệp, kỳ 1, tháng 12, năm 2005, PGS, TS.Phan Đăng Tuất có bài viết “Trở thành nhà cung cấp cho các doanh nghiệp Nhật Bản – Con đường nào cho Việt Nam”. Bài viết khẳng định vai trò của ngành CNHT đối với sự phát triển của nền kinh tế, luận giải những yếu tố và con đường phát triển CNHT của Việt Nam đó là cần mở rộng hợp tác cũng như xúc tiến mạnh mẽ quá trình quan hệ với Nhật Bản thông qua việc trở thành vệ tinh hay các nhà cung cấp các sản phẩm đầu vào phục vụ cho ngành lắp ráp của Nhật Bản, qua đó thúc đẩy CNHT của Việt Nam ngày càng phát triển.2 Nhóm công trình khoa học nghiên cứu về công nghiệp hỗ trợ công nghiệp điện tử Một nghiên cứu chỉ ra tầm quan trọng của chính sách phát triển nguồn nhân lực và các chính sách hỗ trợ liên kết của chính phủ đối với các tập đoàn điện tử gia dụng của Nhật bản với các doanh nghiệp nội địa trong sản xuất linh kiện cho ngành điện tử của tác giả Goh Ban Lee, (1998), “Linkage between the multinational corporations and local supporting industries” (Liên kết giữa các tập đoàn đa quốc gia và các ngành CNHT nội địa).
Rằng vai trò của chính phủ để phát triển CNHT nội địa là không thể thiếu. 5 z Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra vai trò quan trọng của chính phủ trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước phát huy hơn nữa sự sáng tạo của mình nhằm cung ứng hỗ trợ cho ngành điện tử phát triển, đó là nghiên cứu của Halim Mohd Noor, Roger Clarke, Nigel Driffield (2002), “Multinational corporation and technological effort by local firm: acase study of the Malaysia electronics and electrical industry” ( tập đoàn đa quốc gia và các nỗ lực công nghệ của doanh nghiệp địa phương: trường hợp nghiên cứu ngành công nghiệp điện và điện tử Malaysia). Hisami Mitarai năm 2005 với đề tài “Các vấn đề trong ngành công nghiệp điện và điện tử của các nước ASEAN và bài học rút ra cho Việt Nam”. Bài nghiên cứu này xem xét, phân tích chi tiết các vấn đề nảy sinh trong quá trình phát triển của ngành công nghiệp điện và điện tử của các nước ASEAN, cụ thể là Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philipines.
Đối với mỗi quốc gia lại đi sâu tiến hành phân tích chính sách công nghiệp, đặc biệt là chính sách CNHT CNĐT, quá trình phát triển ngành CNĐT và các ưu tiên từ chính phủ dưới góc nhìn của các doanh nghiệp Nhật Bản. Từ đó cung cấp các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình phát triển ngành công nghiệp điện và điện tử. Trương Thị Chí Bình năm 2010 với đề tài “Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành điện tử gia dụng ở Việt Nam”. Tác giả đã có nhiều phát hiện mới, phạm vi CNHT của một ngành công nghiệp chế tạo, như ngành điện tử gia dụng, bao gồm quá trình sản xuất 3 nhóm sản phẩm chính: Linh kiện điện và điện tử, linh kiện kim loại, linh kiện nhựa và cao su.
Lý do yếu kém và triển vọng của CNHT Việt Nam do một số vấn đề như: Việt Nam hoàn toàn không thu hút đầu tư từ các nhà cung ứng nước ngoài – hầu hết là các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa vào sản xuất CNHT, mà chỉ tập trung thu hút đầu tư từ tập đoàn lớn, vì thế không tạo ra các lớp cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia. từ đó đi đến một số kết luận như: Cần tập trung thu hút FDI vào sản xuất CNHT ngành điện tử gia dụng Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam nên hướng đến cung ứng đa ngành cho các nhà sản xuất phụ trợ trong mạng lưới sản xuất, thay vì cung ứng cho tập đoàn đa quốc gia như hiện nay. 6 z Nghiên cứu Hồ Lê Nghĩa năm 2011 với đề tài “Chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế”. Nghiên cứu chỉ ra rằng, chất lượng tăng trưởng ngành công nghiệp điện tử Việt Nam rất thấp thể hiện qua bốn nhân tố kinh tế lõi: tỷ lệ VA/GO1 thấp; hệ số ICOR2 cao, năng suất lao động thấp và CNHT CNDDT kém phát triển.
Chính vì thế cần ưu tiên phát triển CNHT CNĐT, coi đó là yếu tố căn bản quyết định chất lượng tăng trưởng của ngành CNĐT thay vì tập trung sản xuất, lắp ráp ra các sản phẩm tiêu dùng cuối cùng như hiện nay. Và trong hệ thống các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành CNĐT, nghiên cứu nhấn mạnh cách thức phát triển CNHT ngành điện tử, trong đó vai trò của Chính phủ có tính quyết định về CNHT và các chương trình hành động cụ thể. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoàng Anh năm 2012 với đề tài “Phát triển công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực điện tử tại Việt Nam hiện nay”. Đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực điện tử tại Việt Nam hiện nay, đề xuất các giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng phát triển công nghiệp phụ trợ trong lĩnh vực điện tử Việt Nam trong thời gian tới.
Trên tạp chí Tài chính kỳ 2 tháng 3/2016, ThS. Lê Thanh Thủy – Học viện công nghệ bưu chính viễn thông 1 có bài viết “Cơ hội và thách thức của ngành công nghiện điện tử Việt Nam trong hội nhập”. Bài viết chỉ ra rằng: Việt nam đang là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI trong ngành công nghiệp điện tử, song nước ta cũng đang vấp phải không ít thách thức như công nghiệp điện tử mới dừng ở mức độ gia công, doanh nghiệp hoạt động trong ngành CNHT CNĐT trong nước chưa đóng góp nhiều trong chuỗi cung ứng hàng điện tử. Sự phụ thuộc vào các nhà cung cấp nước ngoài về kỹ thuật là thách thức lớn nhất đối với sự phát triển của công nghiệp điện tử Việt Nam.Nguồn nhân lực có khả năng thiết kế và thực hiện quy trình công nghệ vẫn là rào cản khó vượt qua.Khu vực tư nhân trong nước còn yếu kém, đầu tư nghiên cứu vào phát triển không đáng kể.
1 VA/GO: Hiệu quả sản xuất công nghiệp của tỉnh, trong đó: VA là sự tăng lên của phần giá trị mới sáng tạo và GO là giá trị sản xuất của ngành. 2 ICOR: Hệ số sử dụng vốn, hay hệ số đầu tư tăng trưởng. Cho biết muốn có thêm một đơn vị sản lượng trong một thời kỳ nhất định phải bỏ ra thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư trong kỳ đó. 7 z Tất cả các công trình nghiên cứu về CNHT cũng như những công trình đi sâu về ngành CNHT cho CNĐT, đã khái quát và nêu bật lên khái niệm, đặc điểm, quá trình hình thành, phát triển, những mắt xích then chốt góp phần đẩy mạnh CNHT phát triển.
Xét riêng về ngành CNHT cho CNĐT, các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam đã chỉ ra vai trò của các DNNVV hay nói cách khác đó là vai trò của hệ thống thầu phụ, vai trò của nguồn nhân lực, vai trò các chính sách của chính phủ là những nhân tố chủ yếu hoàn thiện, kiện toàn đối với ngành CNHT cho CNĐT.