Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường tự nhiên" được tác giả Trần Thị Mỹ Dương thực hiện vào tháng 5 năm 2019 tại Khoa Tiểu học – Mầm non – Nghệ thuật, Trường Đại học Quảng Nam, dưới sự hướng dẫn của ThS. Lê Thị Minh Trinh.

Về bối cảnh nghiên cứu, tác giả xuất phát từ tình trạng môi trường toàn cầu đang bị suy thoái nghiêm trọng do các tác động tiêu cực của con người: bầu khí quyển ô nhiễm bởi khí độc hại, diện tích rừng suy giảm, băng tan đe dọa dịch bệnh và ngập lụt, cùng thiên tai hạn hán bão lũ diễn biến phức tạp. Tác giả dẫn chứng lời chia sẻ của nhà du hành vũ trụ Yuri Gagarin về vẻ đẹp mong manh của Trái Đất và bài học từ các thảm họa thiên tai như bão Haiyan nhằm nhấn mạnh nguyên nhân gốc rễ bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết và thiếu ý thức của con người. Đối với lứa tuổi mầm non, đây là giai đoạn nhân cách bắt đầu hình thành và tiếp thu nhanh các nề nếp thói quen; việc cho trẻ tiếp cận sớm với các hành vi ứng xử đúng đắn đối với thiên nhiên là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược. Trong đó, hoạt động khám phá môi trường tự nhiên với nguồn biểu tượng đa dạng (cây cỏ, con vật, các hiện tượng tự nhiên) đóng vai trò là con đường trực quan, hiệu quả để hình thành ý thức và thói quen bảo vệ môi trường cho trẻ.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường tự nhiên.

Đề tài xác lập ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường tự nhiên.
  2. Nghiên cứu thực trạng của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường tự nhiên tại trường Mẫu giáo Sao Biển – Núi Thành – Quảng Nam.
  3. Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường tự nhiên.

Khóa luận phân định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường tự nhiên.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường tự nhiên.
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian khảo sát và thực nghiệm được giới hạn tại trường Mẫu giáo Sao Biển (xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam); thời gian khảo sát thực trạng diễn ra từ ngày 18/02/2019 đến ngày 15/03/2019; nội dung nghiên cứu tập trung vào các biện pháp lồng ghép trong hoạt động khám phá khoa học có chủ đích và hoạt động ngoài trời cho trẻ lớp Mẫu giáo Lớn (5 – 6 tuổi).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên hệ thống khái niệm công cụ và các đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi mẫu giáo lớn:

  • Hệ thống khái niệm: Làm rõ định nghĩa về "biện pháp", "môi trường" (theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp và định nghĩa của UNESCO về hệ thống tự nhiên và xã hội), "môi trường tự nhiên", "khám phá môi trường tự nhiên", "giáo dục", "ý thức", "bảo vệ môi trường" và "giáo dục ý thức bảo vệ môi trường". Biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 – 6 tuổi được định nghĩa là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống của giáo viên thông qua hoạt động khám phá tự nhiên nhằm giúp trẻ hình thành thói quen, nề nếp tích cực đối với môi trường.
  • Cơ sở pháp lý và chương trình: Dựa trên Điều 21 Luật Giáo dục năm 2005 về mục tiêu giáo dục mầm non, hướng đến sự phát triển toàn diện (thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội, thẩm mỹ).
  • Đặc điểm nhận thức và tâm lý: Phân tích sự xác định "ý thức bản ngã" ở trẻ 5 – 6 tuổi, khả năng tự đánh giá, so sánh mình với người khác, ý thức hành vi theo giới tính và sự điều chỉnh hành vi theo quy tắc xã hội. Nhận thức của trẻ giai đoạn này mang tính trực quan hình tượng rõ nét, có nhu cầu khám phá mạnh mẽ qua các câu hỏi "Vì sao?", "Làm thế nào?", và tri giác chính xác nhất khi được trực tiếp thao tác với đối tượng.
  • Khung nội dung khám phá môi trường tự nhiên: Được phân chia theo 4 chủ đề cốt lõi gồm: Thực vật (đặc điểm, nhu cầu, cách chăm sóc), Động vật (phân nhóm vật nuôi, hoang dã, môi trường sống), Hiện tượng tự nhiên (nguồn sáng, thời tiết, sự thay đổi của khí hậu), và Thiên nhiên vô sinh (nước, không khí, đất, cát, sỏi, đá). Đồng thời, xác định 8 nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cụ thể cho lứa tuổi này.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai đồng bộ:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, phân loại và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến giáo dục môi trường cho trẻ mầm non.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (Anket): Sử dụng bảng hỏi khảo sát nhận thức, các hình thức và biện pháp đã triển khai, cùng những khó khăn gặp phải của giáo viên.
    • Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện trực tiếp với giáo viên mầm non về việc tổ chức các hoạt động giáo dục môi trường.
    • Phương pháp quan sát: Dự giờ, quan sát tiết dạy có chủ đích và hoạt động ngoài trời, ghi chép phản ứng và hành vi của trẻ.
    • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm có đối chứng để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
  • Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng công thức tính tỉ lệ phần trăm $T = \frac{K}{N} \times 100$ để xử lý và so sánh định lượng các số liệu điều tra và thực nghiệm.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm:

  • Dữ liệu khảo sát từ 8 giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tại các lớp Mẫu giáo Lớn trường Mẫu giáo Sao Biển.
  • Dữ liệu khảo sát và đánh giá trên 52 trẻ em thuộc hai lớp Mẫu giáo Lớn A và Mẫu giáo Lớn B tại trường Mẫu giáo Sao Biển.
  • Hồ sơ, số liệu thống kê cơ cấu tổ chức, đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất năm học 2018 – 2019 của trường Mẫu giáo Sao Biển (xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường tự nhiên

Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở khoa học của đề tài:

  • Khái quát lịch sử nghiên cứu: Nêu các mô hình giáo dục môi trường mầm non quốc tế như "Giáo dục văn hóa sinh thái" ở Nga, chương trình trải nghiệm tại Tây Ban Nha, Mỹ (Nebraska, Lincoln), Nhật Bản, Anh và Hàn Quốc; cùng các công trình tại Việt Nam của Viện Khoa học Giáo dục (1996, 1998 – 2000), nghiên cứu của Tạ Thị Kim Nhung, Bùi Ngọc Thanh Thảo, Nguyễn Thị Thu Trang, Lê Thị Huế Trân. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu chuyên sâu về các biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường thông qua hoạt động khám phá môi trường tự nhiên.
  • Làm rõ đặc điểm tâm lý của trẻ 5 – 6 tuổi: Thời lượng tập trung chú ý của trẻ đã tăng lên 30 – 35 phút cho một hoạt động; trẻ bắt đầu hiểu các mối quan hệ nguyên nhân – kết quả đơn giản giữa hành vi của con người và môi trường sống.
  • Hệ thống hóa 8 nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường đối với trẻ mẫu giáo lớn:
    1. Ý thức về vứt rác đúng nơi quy định.
    2. Ý thức về tiết kiệm nước trong sinh hoạt.
    3. Ý thức về bảo vệ và chăm sóc động vật, thực vật.
    4. Ý thức về giữ gìn vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường lớp học, sân trường.
    5. Ý thức coi trọng các tài nguyên thiên nhiên (đất, đá, nước, khoáng sản).
    6. Thể hiện thái độ rõ ràng đối với các hành vi đúng – sai trong bảo vệ môi trường.
    7. Ý thức chấp hành lời nhắc nhở của người lớn về bảo vệ môi trường.
    8. Ý thức phối hợp, hợp tác cùng bạn bè trong các hoạt động bảo vệ môi trường.
  • Ý nghĩa phát triển tâm lý: Khẳng định hoạt động khám phá môi trường tự nhiên rèn luyện cảm giác, tri giác, chú ý có chủ định, phát triển thao tác tư duy (phân tích, so sánh, tổng hợp), mở rộng vốn từ ngôn ngữ và bồi dưỡng tình cảm đạo đức, thái độ thân thiện với thiên nhiên.

Chương 2. Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường tự nhiên

Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực tế tại trường Mẫu giáo Sao Biển (xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam) được thu thập từ ngày 18/02/2019 đến ngày 15/03/2019:

  • Đặc điểm địa bàn khảo sát: Trường có 26 cán bộ, giáo viên, nhân viên (3 cán bộ quản lý, 16 giáo viên phụ trách 8 lớp học gồm 4 lớp Mẫu giáo Lớn và 4 lớp Mẫu giáo Nhỡ, 7 nhân viên). Tổng số trẻ toàn trường là 198 trẻ (100% học bán trú). Trình độ chuyên môn của đội ngũ đạt chuẩn và trên chuẩn (17 đại học, 2 trung cấp). Cơ sở vật chất khang trang, sân chơi có cây xanh nhưng đồ dùng dạy học tự làm phục vụ khám phá thiên nhiên còn hạn chế.
  • Thực trạng nhận thức của giáo viên: Có 62,5% (5/8 giáo viên) đánh giá việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường qua hoạt động này là "Rất quan trọng" và 37,5% (3/8 giáo viên) đánh giá là "Quan trọng". Tuy nhiên, về vai trò của bản thân, 50,0% giáo viên vẫn tự nhận mình giữ vai trò "trung tâm, là người tổ chức hướng dẫn", chỉ có 25,0% nhận thức vai trò là "người tạo cơ hội, điều kiện cho trẻ khám phá" và 25,0% có ý kiến linh hoạt theo tình huống.
  • Thực trạng tổ chức và hình thức giáo dục: Tần suất tổ chức hoạt động nhằm giáo dục bảo vệ môi trường còn thấp: chỉ 12,5% rất thường xuyên, 37,5% thường xuyên, và có tới 50,0% thừa nhận không thường xuyên tổ chức. Giáo viên chủ yếu tập trung vào giờ học có chủ đích trên lớp (62,5% thường xuyên) và vui chơi ngoài trời (50,0% thường xuyên), trong khi 100% giáo viên không thường xuyên sử dụng hình thức dạo chơi, tham quan và hoạt động lao động.
STT Các biện pháp giáo viên đã sử dụng Rất thường xuyên (%) Thường xuyên (%) Không thường xuyên (%) Không bao giờ (%)
1 Xây dựng cảnh quan sư phạm nhà trường xanh – sạch – đẹp 0,0 100,0 0,0 0,0
2 Lập kế hoạch lồng ghép GD ý thức BVMT cho trẻ thông qua hoạt động KP MTTN 25,0 62,5 12,5 0,0
3 Sưu tầm, lựa chọn các trò chơi quen thuộc phù hợp với nội dung GD ý thức BVMT 25,0 75,0 0,0 0,0
4 Lồng ghép đồng dao, ca dao, câu đố, bài thơ, câu chuyện vào hoạt động KP MTTN 25,0 50,0 25,0 0,0
5 Tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm và lao động 0,0 25,0 75,0 0,0
6 Đánh giá, tổng kết, khen thưởng cho các cá nhân điển hình 25,0 50,0 25,0 0,0
  • Khó khăn trong thực tiễn: Giáo viên phản ánh 5 nhóm khó khăn chính gồm: sĩ số trẻ đông khó quán xuyến (25,0%), đồ dùng đồ chơi không đủ đáp ứng (25,0%), tốn nhiều thời gian và công sức chuẩn bị (25,0%), khả năng nhận thức của trẻ còn hạn chế (12,5%) và thiếu sự phối hợp từ gia đình (12,5%).
  • Đánh giá thực trạng ở 52 trẻ: Tác giả xây dựng 2 tiêu chí (Mức độ nhận thức trong các hoàn cảnh khác nhau; Mức độ vận dụng kiến thức, kỹ năng và sự nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ) với 2 bài tập kiểm tra độc lập (tổng 10 điểm). Kết quả khảo sát thực trạng cho thấy ý thức của trẻ chưa đồng đều:
Mức độ đánh giá Thang điểm Số lượng trẻ (N = 52) Tỉ lệ (%)
Mức độ 1: Cao 8 – 10 điểm 13 25,0
Mức độ 2: Trung bình 5 – dưới 8 điểm 22 42,3
Mức độ 3: Thấp Dưới 5 điểm 17 32,7

Phân tích định tính chỉ ra rằng trẻ chủ yếu đạt điểm ở các bài tập nhận biết tên gọi, biểu tượng bề ngoài; còn ở bài tập đòi hỏi giải thích nguyên nhân và thực hiện hành vi thực tế thì phần lớn còn lúng túng, thờ ơ hoặc làm sai.

  • Nguyên nhân: Do chương trình khám phá tự nhiên mang tính tích hợp rộng khiến giáo viên lúng túng; giáo viên ngại tốn thời gian tổ chức trải nghiệm nên thiên về truyền thụ một chiều; thiếu các buổi chuyên đề chuyên môn sâu; công tác tuyên truyền và kết hợp với phụ huynh học sinh còn rời rạc.

Chương 3. Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường tự nhiên

Trên cơ sở lý luận và thực trạng đã khảo sát, tác giả xác định 4 nguyên tắc định hướng xây dựng biện pháp:

  1. Dựa vào mục tiêu của chương trình giáo dục mầm non (phát triển cân đối 5 mặt theo Luật Giáo dục).
  2. Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi (quá trình giáo dục phải tác động đồng bộ lên nhận thức, tình cảm, ý chí và biến thành hành vi ổn định).
  3. Dựa vào nguyên tắc giáo dục "Lấy trẻ làm trung tâm" và xây dựng môi trường phát huy tính tích cực nhận thức (giáo viên là người hỗ trợ, "thang đỡ", tôn trọng ý tưởng của trẻ).
  4. Dựa vào điều kiện cơ sở vật chất của trường lớp, địa phương.

Hệ thống 5 biện pháp sư phạm được đề xuất:

  • Biện pháp 1: Lập kế hoạch lồng ghép nội dung giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá môi trường tự nhiên theo từng chủ đề năm học.
  • Biện pháp 2: Đa dạng hóa các loại trò chơi lồng ghép vào hoạt động khám phá môi trường tự nhiên (tránh việc lặp lại đơn điệu các trò chơi cũ gây nhàm chán cho trẻ).
  • Biện pháp 3: Tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm với các hoạt động bảo vệ môi trường (tổ chức cho trẻ trực tiếp tham gia chăm sóc cây, nhặt lá rác, làm vệ sinh khu vực vườn trường).
  • Biện pháp 4: Thiết kế, ứng dụng trò chơi trên PowerPoint trong tổ chức hoạt động khám phá môi trường tự nhiên nhằm trực quan hóa hình ảnh ô nhiễm, hành vi đúng/sai, kích thích hứng thú của trẻ.
  • Biện pháp 5: Tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh trong công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ tại gia đình và cộng đồng.

Về quy trình thực nghiệm sư phạm: Tác giả tổ chức thực nghiệm trên 52 trẻ thuộc hai lớp Mẫu giáo Lớn (chia thành nhóm Thực nghiệm và nhóm Đối chứng). Sử dụng hệ thống tiêu chí và thang đo 3 mức độ (Cao, Trung bình, Thấp) để đánh giá sự chuyển biến về nhận thức và hành vi của trẻ qua 3 giai đoạn: so sánh nhóm thực nghiệm và đối chứng trước thực nghiệm (Bảng 3.1), sau thực nghiệm (Bảng 3.2), và so sánh đối đầu nội bộ nhóm thực nghiệm trước – sau tác động (Bảng 3.3).

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Khóa luận đã phản ánh chính xác thực trạng công tác giáo dục bảo vệ môi trường tại một trường mầm non bán đảo ven biển: 100% giáo viên nhận thức được tầm quan trọng từ mức độ quan trọng đến rất quan trọng, nhưng có đến 50,0% tổ chức không thường xuyên; 75,0% không thường xuyên tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm lao động; 100% không thường xuyên tổ chức dạo chơi, tham quan.
  • Dữ liệu thực trạng trên 52 trẻ phản ánh rõ mức độ biểu hiện ý thức bảo vệ môi trường ban đầu: mức cao chỉ chiếm 25,0%, mức trung bình chiếm 42,3%, và mức thấp chiếm 32,7%. Kết quả này chứng minh sự thiếu hụt giữa việc tiếp thu tri thức lý thuyết và hành vi ứng xử thực tế của trẻ mầm non đối với môi trường.

Về hệ thống kiến nghị, tác giả đề xuất các giải pháp theo 3 chủ thể:

  • Về phía nhà trường: Cần tăng cường đầu tư trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động khám phá tự nhiên; thường xuyên tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường lồng ghép cho đội ngũ giáo viên; xây dựng khuôn viên vườn trường thành không gian trải nghiệm sinh thái cho trẻ.
  • Về phía giáo viên: Cần chủ động đổi mới phương pháp giảng dạy theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm, giảm bớt việc truyền thụ lý thuyết thụ động; tích cực thiết kế bài giảng điện tử và ứng dụng trò chơi công nghệ thông tin (PowerPoint); linh hoạt tổ chức các hoạt động lao động tự phục vụ, dạo chơi ngoài trời; thường xuyên theo dõi, đánh giá và nêu gương hành vi tốt của trẻ.
  • Về phía phụ huynh: Cần chủ động phối hợp chặt chẽ với giáo viên lớp; làm gương cho con em trong việc giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, tiết kiệm nước, chăm sóc cây xanh tại gia đình; không phó mặc hoàn toàn việc giáo dục hành vi cho nhà trường.

Về đóng góp của đề tài:

  • Về mặt lý luận: Khóa luận góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) theo con đường đặc thù là hoạt động khám phá môi trường tự nhiên, phân tích rõ ràng mối quan hệ giữa sự phát triển ý thức bản ngã với hành vi đạo đức môi trường của lứa tuổi này.
  • Về mặt thực tiễn: Đề tài cung cấp bức tranh khảo sát cụ thể về thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường tại địa bàn huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam; đề xuất 5 biện pháp sư phạm có quy trình rõ ràng, kết hợp giữa trò chơi học tập, ứng dụng công nghệ thông tin và trải nghiệm lao động thực tế, giúp giáo viên mầm non có thể trực tiếp vận dụng vào kế hoạch giảng dạy hàng ngày.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu được tác giả nêu rõ:

  • Địa bàn khảo sát thực trạng và thực nghiệm chỉ diễn ra duy nhất tại một trường mầm non nông thôn ven biển (Trường Mẫu giáo Sao Biển, xã đảo Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam), quy mô mẫu khảo sát giáo viên còn hẹp (8 giáo viên khối Lớn) và 52 trẻ. Do đó, các kết luận thực trạng chưa thể khái quát hóa cho toàn bộ các cơ sở giáo dục mầm non thuộc các vùng đô thị hay miền núi.
  • Về nội dung, đề tài mới chỉ giới hạn nghiên cứu các biện pháp áp dụng trong giờ học khám phá khoa học có chủ đích và hoạt động ngoài trời, chưa bao quát được toàn bộ các thời điểm sinh hoạt khác trong ngày của trẻ tại trường mầm non (như giờ đón/trả trẻ, giờ ăn, giờ vệ sinh, hoạt động góc).
  • Thời gian khảo sát thực trạng diễn ra trong khoảng thời gian ngắn (từ 18/02/2019 đến 15/03/2019).

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên nhiều trường mầm non với các đặc thù địa bàn khác nhau; mở rộng tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào tất cả các hoạt động sinh hoạt trong chế độ một ngày ở trường mầm non và xây dựng các dự án giáo dục môi trường có sự tham gia sâu hơn của cộng đồng địa phương.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị thực tiễn đối với các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Mầm non: Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho việc học tập học phần Phương pháp cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh, rèn luyện kỹ năng xây dựng kế hoạch bài dạy tích hợp và phương pháp tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.
  • Giáo viên mầm non đang giảng dạy nhóm lớp Mẫu giáo Lớn (5 – 6 tuổi): Cung cấp 5 biện pháp cụ thể, hướng dẫn thiết kế trò chơi củng cố trên PowerPoint và các tiêu chí đánh giá hành vi giúp giáo viên dễ dàng đo lường sự tiến bộ của trẻ trong việc giữ gìn vệ sinh, tiết kiệm nước và chăm sóc cây xanh.
  • Cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường mầm non: Cung cấp dẫn liệu thực tế về nhận thức và những khó khăn của giáo viên (về sĩ số, đồ dùng dạy học, thời gian chuẩn bị), làm cơ sở để lập kế hoạch sinh hoạt chuyên đề, bổ sung học liệu tự làm và tổ chức các hội thi thiết kế môi trường sư phạm lấy trẻ làm trung tâm.

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát thực trạng trong đề tài được tiến hành trên những đối tượng nào và ở đâu?

Khảo sát thực trạng được thực hiện tại trường Mẫu giáo Sao Biển, xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam trong khoảng thời gian từ ngày 18/02/2019 đến ngày 15/03/2019. Đối tượng điều tra trực tiếp gồm 8 giáo viên mầm non đang phụ trách các lớp Mẫu giáo Lớn và 52 trẻ em thuộc hai lớp Mẫu giáo Lớn A và Mẫu giáo Lớn B.

2. Giáo viên trường Mẫu giáo Sao Biển gặp phải những khó khăn chủ yếu nào khi giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ?

Theo số liệu khảo sát tại Bảng 2.7 của khóa luận, giáo viên gặp phải 5 khó khăn chính:

  • Số lượng trẻ trong lớp đông, không thể quán xuyến hết hành vi của từng trẻ (25,0%).
  • Đồ dùng, đồ chơi và phương tiện phục vụ bài học không đủ để đáp ứng (25,0%).
  • Quá trình chuẩn bị các hoạt động trải nghiệm làm mất nhiều thời gian, công sức (25,0%).
  • Khả năng nhận thức của một số trẻ trong lớp còn hạn chế (12,5%).
  • Thiếu sự phối hợp, hỗ trợ từ phía gia đình trẻ (12,5%).

3. Thực trạng mức độ ý thức bảo vệ môi trường của 52 trẻ khảo sát ban đầu đạt kết quả như thế nào?

Kết quả kiểm tra qua 2 bài tập đánh giá (thang điểm 10) tại Bảng 2.8 cho thấy:

  • Mức độ Cao (8 – 10 điểm): 13 trẻ, chiếm tỉ lệ 25,0%.
  • Mức độ Trung bình (5 – dưới 8 điểm): 22 trẻ, chiếm tỉ lệ 42,3%.
  • Mức độ Thấp (dưới 5 điểm): 17 trẻ, chiếm tỉ lệ 32,7%. Trẻ chủ yếu thể hiện sự hiểu biết ở mức độ nhận thức nhận diện bề ngoài, nhưng còn thụ động và chưa hình thành được hành vi bảo vệ môi trường tự giác trong thực tế.

4. Tác giả đề xuất bao nhiêu biện pháp sư phạm và dựa trên những nguyên tắc nào?

Tác giả đề xuất 5 biện pháp sư phạm cụ thể gồm: (1) Lập kế hoạch lồng ghép theo chủ đề; (2) Đa dạng hóa các loại trò chơi; (3) Tạo cơ hội cho trẻ trải nghiệm và lao động; (4) Thiết kế, ứng dụng trò chơi trên phần mềm PowerPoint; (5) Tuyên truyền, phối hợp với phụ huynh học sinh. Các biện pháp này được xây dựng dựa trên 4 nguyên tắc: bám sát mục tiêu chương trình giáo dục mầm non (Luật Giáo dục 2005); phù hợp đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi 5 – 6 tuổi; quán triệt quan điểm "Lấy trẻ làm trung tâm"; và phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của trường lớp, địa phương.

5. Tiêu chí và công cụ nào được sử dụng để đánh giá mức độ ý thức của trẻ trong đề tài?

Tác giả xây dựng 2 tiêu chí đánh giá gồm:

  • Tiêu chí 1: Mức độ nhận thức về ý thức bảo vệ môi trường trong các hoàn cảnh khác nhau.
  • Tiêu chí 2: Mức độ vận dụng kiến thức, kỹ năng về bảo vệ môi trường và sự nỗ lực cố gắng hoàn thành nhiệm vụ. Công cụ đánh giá gồm 2 bài tập lớn kiểm tra độc lập (mỗi bài tập lớn gồm 5 bài tập nhỏ, mỗi bài nhỏ đúng được 1 điểm, tối đa 10 điểm), kết hợp với biên bản quan sát định tính hành vi ứng xử thực tế của trẻ trong các hoạt động.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Mỹ Dương đã giải quyết đồng bộ ba nhiệm vụ nghiên cứu từ việc xác lập hệ thống cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn tại trường Mẫu giáo Sao Biển đến đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm cụ thể. Đề tài đã phản ánh chân thực thực trạng nhận thức của giáo viên và năng lực thực hành của trẻ 5 – 6 tuổi đối với môi trường tự nhiên, chỉ ra rõ khoảng cách giữa việc hiểu biết lý thuyết và hình thành thói quen hành động. Hệ thống 5 biện pháp sư phạm được xây dựng dựa trên nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm, kết hợp hài hòa giữa công nghệ trình chiếu và hoạt động trải nghiệm thực tế, mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác chăm sóc, giáo dục mầm non.