CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TÂY NGUYÊN CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong phần tổng quan nghiên cứu, chúng tôi trình bày hai nội dung liên quan đến hai hướng nghiên cứu lẫn nhau: nghiên cứu về VHTT và nghiên cứu về GD VHTT. Mối quan hệ qua lại được khái quát hóa thông qua sự liên kết chặt chẽ giữa hai hướng nghiên cứu. Các nghiên cứu về VHTT đặt nền tảng cho các nghiên cứu tìm ra cách thức, phương pháp GD VHTT cho người học.
Ngoài ra, khi thực hiện GD VHTT thông qua điều tra hiện trạng, nội dung VHTT được làm rõ và điều chỉnh phù hợp hơn với sự phát triển đặc điểm chung của từng dân tộc, đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội và đặc điểm học sinh. Các nghiên cứu liên quan đến Văn hóa truyền thống Đi dọc theo suốt chiều dài lịch sử của nhân loại là những nét đẹp rất riêng không thể lẫn vào nhau. Đó là những nét đặc trưng của các dân tộc về: ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Những nét đặc trưng rueeng ấy đã tạo nên một khái niệm mà người ta gọi là văn hoá truyền thống (tradition cultural).
Các nhà nghiên cứu khoa học xã hội tập trung làm rõ VHTT ở bốn khía cạnh: (1) Đặc điểm về yếu tố dân tộc của VHTT; (2) Phương pháp, đặc điểm nghiên cứu VHTT; (3) Thực trạng về sự biến đổi VHTT trong một bối cảnh cụ thể; (4) Các yếu tố tác động, giải pháp giữ gìn và phát triển VHTT. Phần nội dung tiếp theo được chúng tôi tổng hợp theo bốn hướng nghiên cứu đã nêu. * Hướng thứ nhất: các nghiên cứu liên quan đến yếu tố đặc điểm dân tộc trong VHTT. Các nhà nghiên cứu được tổng hợp bao gồm: John Tomasi (1995), Abhoud Syed M.
John Tomasi (1995) đã thực hiện đề tài nghiên cứu về đề tài: Tư tưởng của Kymlicka về Chủ nghĩa tự do và Tôn trọng văn hoá của dân tộc thiểu số. Chủ đề đã nêu rõ quan điểm của triết gia kiêm chính trị gia William Kymlicka. William Kymlicka được biết đến với những ý tưởng tuyệt vời trong chủ nghĩa đa văn hóa và đa sắc tộc. Đề tài đã phản ánh vấn đề vi phạm nhân quyền và đạo đức về việc các nhà nghiên 12 cứu dân tộc đã so sánh tiêu chuẩn dân tộc này với dân tộc khác.
Bài báo cũng đề cập đến các giá trị khác nhau và lợi ích của nó đối với quốc gia, dân tộc [74]. Kế thừa những nghiên cứu trên, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận dân tộc, luôn coi vấn đề VHTT trên cơ sở lợi ích của quốc gia và cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Hơn hết, chúng tôi rất đồng tình với quan điểm cần tôn trọng tính dân tộc trong nghiên cứu văn hóa nói chung và VHTT nói riêng. Nghiên cứu không lấy tiêu chuẩn của dân tộc Kinh để so sánh với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
Các thuộc tính của vấn đề VHTT được chúng tôi xem xét dựa trên đặc điểm riêng của từng cộng đồng các dân tộc thiểu số. (2004) đã thực hiện nghiên cứu về người Hồi giáo ở Philippines. Đây là một nghiên cứu lý thuyết về các đặc điểm văn hóa của người Hồi giáo sống ở Philippines. Nội dung được tác giả giới thiệu bao gồm: 13 nhóm dân tộc theo đạo Hồi và ngôn ngữ của họ, sự giới thiệu của đạo Hồi, tư tưởng Hồi giáo và các chính sách của chính phủ đối với nhóm này [70].
Abhoud nghiên cứu các đặc điểm VH của người Hồi giáo vì mục đích chính trị hơn là một nghiên cứu giáo dục xã hội. Tuy nhiên, nghiên cứu trên đã tôn trọng dân tộc hoặc VHTT của nhóm dân tộc Hồi giáo. Dựa trên kết quả nghiên cứu, chính phủ Philippines đã giảm thiểu các cuộc xung đột Hồi giáo. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng có những giá trị lý luận nhất định đối với việc nghiên cứu các DTTS.
Trần Ngọc Bình (2008) đã có tác phẩm sách về chủ đề VH các dân tộc Việt Nam. Qua nghiên cứu hồi cứu và tổng hợp tư liệu sưu tầm được, tác giả đã đưa ra cái nhìn đa chiều và khá đầy đủ về VH các dân tộc anh em sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Nội dung giới thiệu gồm: lịch sử hình thành các dân tộc ở Việt Nam, đặc điểm, đời sống văn hóa của 54 dân tộc anh em trong cộng đồng Việt Nam [8]. Cuốn sách đã đánh dấu bước khởi đầu cho việc nghiên cứu có hệ thống về VH các dân tộc Việt Nam và là nguồn tài liệu chuyên khảo để nghiên cứu về đặc điểm của các dân tộc thiểu số.
Bên cạnh những nghiên cứu về giá trị và bản sắc văn hóa, các nhà nghiên cứu còn đi sâu tìm hiểu các giá trị của VHTT trong đời sống cộng đồng. Tác giả Phan Huy Lê (2020) đã có một tác phẩm sách về giá trị truyền thống và con người Việt Nam ngày nay. Cuốn sách là sản phẩm của đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Nhà nước mang mã số KX- 07-02. Đây là kết quả báo cáo của đề tài 13 khoa học thuộc chương trình.
Phan Huy Lê đã phân tích đặc điểm của các bộ phận cấu thành nền văn hóa truyền thống Việt Nam trong mối quan hệ với bản sắc văn hóa của dân tộc. Ngoài ra, cũng khái quát văn hóa truyền thống được đặt trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng theo vùng địa lý - văn hóa và dân tộc, giữa những mặt tích cực cần kế thừa và phát huy và những mặt hạn chế, lạc hậu cần để được khắc phục. Trên cơ sở người nghiên cứu, so sánh các yếu tố VHTT của các DTTS Tây Nguyên với VHTT Việt Nam, chúng tôi chắt lọc những yếu tố VHTT dân tộc, tiêu biểu không thể thiếu. Với quan điểm coi VHTT vừa là mục tiêu, vừa là động lực nội sinh để phát triển kinh tế - xã hội, đánh giá một cách khách quan những điểm mạnh, điểm yếu của di sản truyền thống, đưa ra những kiến nghị về phương hướng và giải pháp về phương pháp giáo dục, phát huy các giá trị truyền thống, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại.
Năm 2021, tác giả Đặng Trọng Hổ có công trình: VHTT các dân tộc Tây Nguyên: Nhận diện đúng để bảo tồn có hiệu quả. Đây là một nghiên cứu lý thuyết và thực tế. Tác giả đề nghị khi tìm hiểu, nghiên cứu, xác định một vùng văn hóa, một nền văn hóa nào đó cần dựa vào hai bộ công cụ quan trọng: Hệ tọa độ ba chiều (chủ thể văn hóa, không gian văn hóa). văn hóa, thời gian văn hóa) và đặc điểm văn hóa (tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân văn và tính lịch sử).
Nghiên cứu chuyên sâu này giúp xác định bản sắc văn hóa các dân tộc. Từ đó, tránh nói đến văn hóa Tây Nguyên, không nói đến bản sắc chung mà là bản sắc văn hóa tộc người. Tuy nhiên, xác định và khái quát bản sắc văn hóa tộc người là một vấn đề rất khó, nhưng phải bắt đầu từ những dấu hiệu sau: Giá trị tinh thần, tương đối lâu dài, có tác dụng chi phối các đặc điểm khác, có khả năng phân biệt nền văn hóa này với nền văn hóa khác [31]. Ngoài ra, tác giả đã tổ chức nghiên cứu khảo sát thực trạng và nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến đổi của văn hóa làng ở Tây Nguyên.
Nhìn chung, trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về các vấn đề dân tộc, đặc biệt là các dân tộc thiểu số. Các nhà nghiên cứu tập trung vào các vấn đề định lượng, tư tưởng tôn trọng dân tộc, tính đại diện khi nghiên cứu về dân tộc, tiêu chuẩn hóa các cơ sở để đánh giá các thuộc tính của dân tộc. Dân tộc được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực trong khoa học xã hội. Các nghiên cứu trên đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan 14 đến nghiên cứu VHTT các dân tộc.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu trong nước đã có những bước đầu quan tâm đến các vấn đề liên quan đến dân tộc, còn khá muộn so với thế giới. Các công trình nghiên cứu tập trung nghiên cứu lý luận về dân tộc, biến đổi văn hóa và những hệ quả của nó ảnh hưởng đến văn hóa dân tộc. * Hướng thứ hai: các nghiên cứu liên quan đến phương pháp, đặc điểm nghiên cứu VHTT VHTT là một bộ phận cấu thành của dân tộc. Điều này làm cho nghiên cứu văn hóa truyền thống trở thành một nghiên cứu liên ngành.
Khi nghiên cứu VHTT cần có những nguyên tắc và phương pháp cụ thể để kết quả nghiên cứu được khách quan và chính xác hơn. Các nhà nghiên cứu theo hướng thứ hai đã khái quát về cách thức, phương pháp và nguyên tắc khi nghiên cứu các vấn đề VHTT. Các đại diện mà chúng tôi tổng hợp bao gồm: Padilla và Lindholm (1995), La Roche, M. Năm 1995, nhóm tác giả Padilla và Lindholm đã có một nghiên cứu về các vấn đề nghiên cứu giáo dục định lượng về dân tộc thiểu số.
Nhóm nghiên cứu đề cập rằng cần loại bỏ những giả định về các yếu tố: giai cấp, ngôn ngữ, văn hóa bản địa vì những vấn đề liên quan đến lợi ích cá nhân của từng dân tộc. Thay vào đó, khi nghiên cứu về các DTTS, các nhà nghiên cứu nên tập trung vào ba điều. Đầu tiên, xác định đặc điểm của đối tượng nghiên cứu để chọn mẫu một cách khách quan. Thứ hai, phải chú ý đến tính không đồng nhất của vấn đề nghiên cứu trong nhóm mẫu đã chọn.
Thứ ba, phải đặc biệt chú ý đến rào cản ngôn ngữ trong quá trình tương tác với mẫu nghiên cứu. Trên hết, nhóm nghiên cứu kêu gọi tôn trọng lợi ích của từng dân tộc [81]. Dựa trên nghiên cứu này, chúng tôi hoàn toàn đồng ý về các vấn đề mà nhóm Padilla và Lindholm đã đề cập. Phải đảm bảo tính khách quan khi chọn mẫu, yếu tố ngôn ngữ, tôn trọng lợi ích của quốc gia.
Trên hết, khi tiến hành nghiên cứu, cần căn cứ vào kết quả nghiên cứu ngôn ngữ của đối tượng về mức độ đọc hiểu ngôn ngữ được khảo sát, để đảm bảo thông hiểu ngôn ngữ khi tiến hành khảo sát. đã chuẩn hóa thang điểm DSM5 (Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê về Rối loạn Tâm thần, Ấn bản lần thứ 5) cho các dân tộc thiểu số ở Hoa Kỳ.