CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO TRẺ MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề GDTM là một trong năm lĩnh vực giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non, là bộ phận không tách rời với giáo dục trí tuệ và đạo đức. Tuy vậy, vì nhiều lí do khác nhau, việc quản lí GDTM trong nhà trường còn gặp nhiều khó khăn. Hiện có nhiều nghiên cứu về GDTM như nghiên cứu về sự khác biệt GDTM trong giáo dục mầm non của Việt Nam và các nước Châu Âu, nghiên cứu những biện pháp, nội dung GDTM cho trẻ mầm non thông qua các hoạt động khác nhau như hoạt động tạo hình, kể chuyện và đóng kịch.
Sơ lược tình hình nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ qua hoạt động trải nghiệm trên thế giới Quan điểm về GDTM trong GDMN của các nước Châu Âu: GDTM là việc hình thành cho trẻ một loại (hình thái) ký hiệu cảm giác (do giác quan ghi nhận), chứa đựng ý nghĩa của mỗi bản thân chúng ta và của thế giới và trong khả năng nào đấy nó còn là hình thái giao tiếp cảm xúc và về cảm xúc. Xác định GDTM là một loại ngôn ngữ riêng, coi GDTM là một phương tiện giao tiếp và rèn luyện cho trẻ sử dụng được phương tiện giao tiếp cảm xúc và giao tiếp về cảm xúc; một dạng giao tiếp bậc cao. GDTM chú trọng phát triển tính bản thân (cái tôi) - đây chính là hướng đến sự khác biệt trong mỗi cá thể nhằm phát huy tính sáng tạo trong mỗi đứa trẻ [6]. Các nhà giáo dục J.Komenskytuy sống ở các quốc gia khác nhau, trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau nhưng họ đều nhấn mạnh đến việc học thông qua hành.
Chủ yếu dạy các em qua việc làm chứ không phải qua lời giảng, giáo dục không phải là truyền đạt lý thuyết suông, trống rỗng, giáo điều. Ngạn ngữ Trung Hoa cho rằng: Tôi nghe - tôi sẽ quên, tôi xem - tôi sẽ nhớ, tôi làm-tôi sẽ hiểu đó cũng chính là tư tưởng cốt lõi và xuyên suốt về PPDHTC của các nước trên thế giới [16]. 8 Trong Experience and Education (1938), Dewey đặt quan điểm giáo dục của mình đối lập với các lý thuyết học tập truyền thống đang phổ biến lúc ấy. John Dewey xây dựng lý thuyết học tập và trải nghiệm của mình gồm 03 nội dung chính: 1.
Học tập là một quá trình và một hệ thống có tính xã hội và có sự tương tác giữa các thành phần [24]. Học tập là một nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, là tiến trình xã hội của những thay đổi và tái cấu trúc các trải nghiệm cá nhân không ngừng nghỉ. Được lồng trong nội hàm của khái niệm phát triển, học tập chính là cuộc sống đang diễn ra chứ không phải là sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai (Leshkovska & Spaseva, 2016). Trường học không chỉ là nơi người học thu nhận được kiến thức mà còn là nơi học làm thế nào để sống [34].
Trường học là một hình thức phôi thai của cuộc sống cộng đồng và là công cụ để thay đổi và thúc đẩy tiến bộ xã hội. Điều đó có nghĩa là đời sống học đường gắn liền với tất cả các khía cạnh của cuộc sống và trải nghiệm của người học phải phát triển từ tất cả các hoạt động cộng đồng mà người học ấy đang sống [17]. Người học sẽ tiến bộ nhanh chóng trong một môi trường họ được phép trải nghiệm và tương tác. Trên quan điểm đó, để hoạt động học tập được hiệu quả, nội dung học tập cần được truyền đạt theo cách thức cho phép người học liên kết thông tin của kinh nghiệm trước với kiến thức mới.
Hoạt động “liên kết” này phải được thực hiện trong một môi trường người học năng động [24]. Bởi vì hoạt động là đặc điểm cơ bản của người học, được thể hiện thông qua bản năng, kinh nghiệm, sở thích và cá tính của mỗi người. Những yếu tổ này của con người đại diện cho một tiềm năng giáo dục to lớn và xuất phát điểm của quá trình học tập, nhưng bản thân nó không phải là điểm kết thúc: chúng cần được kiểm soát và hướng dẫn để hiện thực hóa các mục tiêu đã định trước [17]. Ngoài John Dewey, một trong những lý thuyết trực tiếp của hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học là Lý thuyết học từ trải nghiệm của David Kolb.
Trong đó, ông đã chỉ ra rằng: Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm học. Học từ trải nghiệm gần 9 giống với học thông qua làm nhưng khác ở chỗ nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân [7]. Hermann Ebbinghaus đã thiết lập con đường học tập, mô tả mối quan hệ giữa trí nhớ và thời gian. Tóm lại, nó cho thấy trong một bài giảng, nếu tỷ lệ tiếp thu của bạn là 100% vào ngày thứ nhất, 50-80% sẽ mất đi kể từ ngày thứ hai và giảm đến một tỷ lệ duy trì chỉ 2-3% vào ngày cuối cùng của tháng [38].
Tại Singapore, hoạt động ngoại khóa và chương trình học tập năng động được khẳng định là một “thành phần cốt lõi của toàn bộ trải nghiệm ở nhà trường”, cung cấp một nền tảng xác thực cho việc học tập sẽ diễn ra. Chương trình hiện nay của Singapore được xây dựng theo định hướng phát triển các năng lực thế kỉ XXI cho học sinh. Theo đó, mục tiêu của hoạt động ngoại khóa và chương trình học tập năng động nhằm phát triển các năng lực của học sinh, kết hợp giảng dạy các môn học khác trong chương trình quốc gia để học sinh đạt được những năng lực cốt lõi của thế kỉ XXI [5]. Tóm lại, các nghiên cứu về GDTM của các nhà khoa học, các nhà giáo dục học các nước trên thế giới đang tiến hành đều khẳng định rõ vai trò, tầm quan trọng của giáo dục thẩm mỹ.
Ngoài ra các nhà khoa học đã chỉ ra rằng hoạt động trải nghiệm sáng tạo đóng vai trò quan trọng để giúp người học hình thành trong việc hình thành và phát triển năng lực học sinh. Đó cũng chính là định hướng cho việc nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay nhằm tiếp cận với nền giáo dục thế giới. Tại Việt Nam Trong tác phẩm Giải pháp giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em qua tác phẩm văn học thiếu nhi, tác giả Hoàng Văn Cẩn đã khẳng định GDTM là con đường công phu nhất, phức tạp nhất, nhưng hiệu quả hoàn thiện con người cũng cao nhất, bởi lẽ khi con người đã là chủ thể thẩm mỹ cũng là lúc con người toàn diện nhất, hoàn hảo nhất, ở tất cả các mặt thể chất lẫn tinh thần, đạo đức và tài năng, vừa là chủ thể của xã hội vừa là “sản phẩm” của chính xã hội mà họ đã tạo ra [4]. Tại Đại hội lần thứ IX của Đảng đã đề ra mục tiêu “Tạo điều kiện để nhân dân ngày càng nâng cao trình độ thẩm mỹ và thưởng thức nghệ thuật, trở thành chủ đề 10 sáng tạo văn hóa, đồng thời hưởng thụ ngày càng nhiều các thành tựu văn hóa” [3].
Để GDTM trong trường mầm non, cần lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp với từng độ tuổi, tìm tòi các con đường, phương tiện giáo dục, tạo điều kiện cho trẻ thường xuyên tiếp xúc với các sự vật hiện tượng xung quanh để trẻ cảm thụ các đối tượng, các hiện tượng, các quan hệ của chúng. Chú ý đến việc tổ chức hoạt động ngoài trời cho trẻ hàng ngày vừa là thỏa mãn nhu cầu khám phá thiên nhiên, vừa giúp trẻ có cơ hội bộc lộ cảm xúc chân thật của mình với môi trường. Qua đó, giáo dục trẻ lòng mong muốn tạo ra cái đẹp đối với bản thân và trong cuộc sống [43]. Qua tác phẩm Về giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay của tác giả Vĩnh Quang Lê đã nêu những đặc trưng của GDTM và vấn đề xây dựng con người mới ở nước ta.
Đặc trưng và vai trò của văn học trong GDTM. Những phương hướng và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả GDTM của văn học ở nước ta hiện nay [18]. Không chỉ riêng các nước trên thế giới, nhiều tác giả ở nước ta cũng dành nhiều tâm sức nghiên cứu về HĐTN cũng như đưa ra một số hình thức, phương pháp tổ chức HĐTN trong nhà trường. Xác định tầm quan trọng của HĐTN trong dạy học, Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo có đề cập đến vấn đề tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh như là một PPDHTC trong quá trình dạy học.
HĐTN bản chất là những hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển cho học sinh phẩm chất tư tưởng, ý chí tình cảm, giá trị và kỹ năng sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại [2]. Theo Dự thảo Đề án đổi mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015 đã nêu: “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo bản chất là những hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển cho HS những phẩm chất tư tưởng, ý chí tình cảm, giá trị, kỹ năng sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại. Nội dung của HĐTN được thiết kế theo hướng tích hợp nhiều lĩnh vực, môn học thành các chủ điểm mang tính chất mở. Hình thức và phương pháp tổ chức đa dạng, 11 phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng…để HS có nhiều cơ hội tự trải nghiệm” [8.
HĐTN giúp trẻ được trải qua quá trình khám phá kiến thức và tìm giải pháp từ đó giúp trẻ phát triển năng lực cá nhân và tăng cường sự tự tin, tối đa hóa khả năng sáng tạo, tính năng động và thích ứng giúp cho việc học trở nên thú vị hơn với trẻ và việc dạy trở nên thú vị hơn với người dạy. Khi trẻ được chủ động tham gia tích cực vào quá trình hoạt động, trẻ sẽ có hứng thú và chú ý hơn đến những điều được tiếp cận. Trẻ có thể học các kỹ năng sống bằng việc lặp đi lặp lại hành vi qua các bài tập, hoạt động, từ đó tăng cường khả năng ứng dụng các kỹ năng đó vào thực tế [40]. Hoạt động trải nghiệm được sử dụng như là một hình thức, phương pháp, quan điểm giáo dục ở nhiều nước trên thế giới.
Các nhà giáo dục coi giáo dục dựa vào trải nghiệm như là cách phát triển kinh nghiệm của mỗi cá nhân.