Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Những khái niệm cơ bản về đề tài 1. Hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non từ 5-6 tuổi 1. Ngôn ngữ Các nhà triết học cổ đại đã coi NN như là một hình thức biểu hiện bề ngoài của cái bên trong là "logos", tinh thần, trí tuệ của con người và lấy đó làm tiêu chí phân biệt con người, khác với động vật.
Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người.Vưgotxki coi ngôn ngữ là phương thức đầu tiên mà qua đó, con người trao đổi các giá trị xã hội, coi NN là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của tư duy (L. Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong cộng đồng người. NN đồng thời là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thông văn hóa - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác. Qua các nghiên cứu trên, có thể hiểu là: Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt là chức năng tâm lý cấp cao của con người, là công cụ để tư duy, để giao tiếp, được xem như chìa khoá để con người nhận thức và chiếm lĩnh kho tàng tri thức của cộng đồng và nhân loại.2 Hoạt động giáo dục Theo Từ điển bách khoa: HĐ là phương pháp đặc thù của con người quan hệ với thế giới xung quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ cuộc sống của mình.
Chủ thể của HĐ là con người, khách thể HĐ này là tất cả những gì mà HĐ tác động vào, qua đó tạo ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu của chủ thể (Từ điển Bách khoa, 2001). Các HĐ nói chung, trong đó hoạt động GD giữ vai trò chủ đạo là hình thức biểu hiện quan trọng nhất các mối quan hệ tích cực, chủ động của con người với thực tiễn xung quanh. Hoạt động GD được cho là phương thức tồn tại của con người, đồng thời HĐ là điều kiện, là phương tiện, là con đường hình thành và phát triển nhân cách 10 (Nguyễn Minh Đạo, 1997) Hoạt động giáo dục có thể hiểu theo hai cấp độ: - Theo nghĩa rộng: Hoạt động GD là loại hình HĐ đặc thù của xã hội loài người nhằm tái sản xuất những nhu cầu của và năng lực của con người để duy trì phát triển xã hội, để hoàn thiện các mối quan hệ xã hội thông qua các hình thức, nội dung, biện pháp tác động có hệ thống, có phương pháp, có chủ định đến đối tượng nhằm hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách trên tất cả các mặt đức, trí, thể, mĩ. - Theo nghĩa hẹp: Hoạt động GD là HĐ sư phạm được tổ chức trong nhà trường một cách có kế hoạch, có mục đích.
Trong đó dưới vai trò chủ đạo của nhà GD, người được GD tích cực, chủ động tự GD, tự rèn luyện nhằm hình thành cơ sở của thế giới quan nhân sinh quan khoa học, những phẩm chất, nét tính cách của người công dân người lao động. Các hoạt động GD khác nhau trong nhà trường cần phải hoạch định sao cho phát huy tốt nhất vai trò của GV và HS trong quá trình dạy và học để đạt được mục tiêu GD đề ra. Theo lý luận trên, khái niệm hoạt động GD có thể là: hình thức biểu hiện quan trọng nhất các mối quan hệ tích cực, chủ động của con người với thực tiễn xung quanh. Hoạt động GD được cho là phương thức tồn tại của con người, đồng thời HĐ là điều kiện, là phương tiện, là con đường hình thành và phát triển nhân cách.
Phát triển ngôn ngữ Theo từ điển Tiếng Việt, phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật. Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ (Hoàng Phê, 1997) Với mỗi cá nhân, phát triển NN diễn ra cực kỳ nhanh ở giai đoạn từ 0 - 6 tuổi (lứa tuổi MN). Từ chỗ sinh ra chưa có ngôn ngữ, đến cuối 6 tuổi, chỉ một khoảng thời gian rất ngắn so với cả một đời người, trẻ đã có thể sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày. Đây chính là giai đoạn phát cảm về NN.
Ở giai đoạn này nếu không có những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển NN thì sau này khó có thể phát triển tốt được. - Giai đoạn tiền ngôn ngữ của trẻ từ 0 đến 12 tháng tuổi: Trong giai đoạn tiền ngôn ngữ, trẻ em đã tự học cách sử dụng bộ máy phát âm, tập phát âm các âm vị, tập 11 lắng nghe và nhìn sự chuyển động của cơ quan phát âm (của người nói). Đây là cơ sở ban đầu rất quan trọng để trẻ tiếp thu NN ở giai đoạn sau. - Giai đoạn ngôn ngữ của trẻ từ 1 đến 3 tuổi: Trẻ ở độ tuổi này có thể nghe và hiểu được các từ gần gũi, quen thuộc (bà, bố, mẹ), các câu đơn giản (bé chào bà), đồng thời trẻ cũng bắt đầu thể hiện nhu cầu, mong muốn của mình bằng lời nói, tuy nhiên việc phát âm của trẻ còn rất khó khăn.
Trẻ vẫn còn sử dụng các âm bập bẹ để thể hiện các nhu cầu khác nhau. Đến 3 tuổi, cơ quan phát âm và tai nghe NN của trẻ ở độ tuổi này đã phát triển, hoàn thiện hơn. Trẻ có khả năng phát âm đúng hầu hết các âm đơn và thanh điệu. - Giai đoạn ngôn ngữ của trẻ từ 3 đến 6 tuổi: Ở thời kì này trẻ hoàn thiện dần về mặt ngữ âm.
Các phụ âm đầu, âm cuối, thanh điệu dần dần được định vị. Trẻ phát âm đúng hầu hết các âm vị của tiếng mẹ đẻ, biết điều chỉnh nhịp điệu, cường độ của giọng nói khi giao tiếp. Tuy vậy, khả năng hoàn chỉnh về mặt phát âm của trẻ được tăng dần theo từng độ tuổi, trẻ nhanh chóng định vị được các âm vị có cấu âm đơn giản, những âm vị có cấu âm phức tạp trẻ dễ mắc lỗi nhưng nếu kiên trì tập luyện thì trẻ sẽ có khả năng định vị các âm vị của tiếng mẹ đẻ (Lê Thu Hương, 2008) Tác giả M. Leusina cho rằng: Không phải là từ mà là câu và NN mạch lạc là đơn vị của NN như một phương tiện giao tiếp.
Trẻ càng lớn tính hoàn cảnh của NN càng giảm dần chuyển sang hình thức nói mạch lạc gắn chặt với sự lĩnh hội của vốn từ, lĩnh hội hệ thống ngữ pháp của tiếng mẹ đẻ (Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, 2015) Như vậy, căn cứ vào khái niệm phát triển của các tác giả, chúng tôi hiểu: phát triển NN cho trẻ là là quá trình phát triển NN diễn ra cực kỳ nhanh ở giai đoạn từ 0 - 6 tuổi. Con người sinh ra chưa có NN, đến cuối 6 tuổi - chỉ một khoảng thời gian rất ngắn so với cả một đời người, trẻ đã có thể sử dụng thành thạo tiếng nói trong cuộc sống hàng ngày, giúp cho tư duy của trẻ phát triển và còn là một phương tiện để GD trẻ một cách toàn diện về nhân cách - đạo đức. Hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non từ 5-6 tuổi Theo Lê Thu Hương, trẻ 5 - 6 tuổi hoàn thiện dần về mặt ngữ âm. Các phụ âm đầu, âm cuối, thanh điệu dần dần được định vị.
Trẻ phát âm đúng hầu hết các âm vị của tiếng mẹ đẻ, biết điều chỉnh nhịp điệu, cường độ của giọng nói khi giao tiếp. Tuy vậy, khả năng hoàn chỉnh về mặt phát âm của trẻ được tăng dần theo từng độ tuổi, trẻ nhanh chóng định vị được các âm vị có cấu âm đơn giản, những âm vị có cấu âm 12 phức tạp trẻ dễ mắc lỗi nhưng nếu kiên trì tập luyện thì trẻ sẽ có khả năng định vị các âm vị của tiếng mẹ đẻ (Lê Thu Hương, 2008) Ở lứa tuổi này, NN đóng vai trò quan trọng trong quá trình GD trẻ trở thành những con người phát triển toàn diện. NN chính là cơ sở của mọi sự suy nghĩ và là công cụ của tư duy. Trẻ có nhu cầu rất lớn trong việc nhận thức thế giới xung quanh.
Trong quá trình nhận thức hiện tượng sự vật, trẻ phải dùng lời nói để nói lên những suy nghĩ, cũng như cảm tưởng của mình về những vấn đề đó. Hoạt động PTNN cho trẻ 5 - 6 tuổi là một HĐ sư phạm của GV tác động đến trẻ giúp cho tư duy của trẻ phát triển và hoạt động PTNN còn là một phương tiện để GD trẻ một cách toàn diện về nhân cách - đạo đức. Từ các khái niệm trên, có thể hiểu: Hoạt động PTNN cho trẻ 5- 6 tuổi là HĐ sư phạm của GV tác động đến trẻ, kích thích sự tập trung chú ý và cảm xúc tích cực của trẻ, thúc đẩy trẻ tham gia hiệu quả vào các hoạt động PTNN, giúp cho tư duy của trẻ 5 - 6 tuổi phát triển và đây còn là một phương tiện để GD trẻ một cách toàn diện về nhân cách, đạo đức. Quản lý hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non từ 5 - 6 tuổi 1.
Quản lý Theo Từ điển Giáo dục học ‘‘Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định’’ (Từ điển Giáo dục học , 2001) Quản lý là hoạt động điều hành và kiểm soát một tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu trong điều kiện nhiều biến động. Quản lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát triển. khi nghiên cứu về quản lý, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau (Hoàng Phê, 1997) F.Fayol (1886-1925) là người đầu tiên tiếp cận quản lý theo quy trình và là người có tầm ảnh hưởng to lớn trong lịch sử tư tưởng quản lý từ thời kỳ cận - hiện đại tới nay, quan niệm rằng: “Quản lý hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” (H.P Follet (1868-1933) tiếp cận quản lý dưới góc độ quan hệ con người, khi nhấn mạnh tới nhân tố nghệ thuật trong quản lý đã cho rằng: “Quản lý là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hoàn thành thông qua người khác” (MP.