Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Sinh Viên Học Viện Ngân Hàng: Thực Trạng và Giải Pháp

Giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên học viện ngân hàng hiện nay đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện và nâng cao kỹ năng mềm.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề tài nghiên cứu khoa học

2021

142
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN HIỆN NAY

1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1.1.1. Khái niệm giáo dục và giáo dục thẩm mỹ

1.1.2. Khái niệm giáo dục và vai trò của giáo dục

1.1.3. Khái niệm giáo dục thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên

1.1.4. Bản chất, mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên

1.1.5. Bản chất của giáo dục thẩm mỹ. Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ.

1.2. TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN HIỆN NAY

1.2.1. Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận của giáo dục người sinh viên phát triển toàn diện

1.2.2. Giáo dục thẩm mỹ góp phần nuôi dưỡng tâm hồn, định hướng đạo đức, lối sống cho sinh viên

1.2.3. Giáo dục thẩm mỹ giúp sinh viên có nhận thức và đánh giá đúng đắn các hiện tượng thẩm mỹ đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày

1.2.4. Giáo dục thẩm mỹ góp phần bồi dưỡng tình cảm thẩm mỹ, nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu, lý tưởng thẩm mỹ cho sinh viên

1.3. NỘI DUNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN HIỆN NAY

1.3.1. Giáo dục nhận thức thẩm mỹ. Nhận thức thẩm mỹ

1.3.2. Giáo dục nhận thức thẩm mỹ và vai trò của giáo dục nhận thức thẩm mỹ cho sinh viên

1.3.3. Giáo dục năng lực hoạt động thẩm mỹ. Năng lực thẩm mỹ

1.3.4. Giáo dục năng lực thẩm mỹ và vai trò của giáo dục năng lực thẩm mỹ cho sinh viên

1.3.5. Giáo dục văn hóa thẩm mỹ

1.3.6. Giáo dục văn hóa thẩm mỹ và vai trò của giáo dục văn hóa thẩm mỹ

1.4. MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG HIỆN NAY

1.4.1. Chủ thể giáo dục (Nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên và gia đình)

1.4.2. Đối tượng giáo dục (sinh viên)

1.4.3. Môi trường kinh tế xã - hội

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG HIỆN NAY

2.1. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG HIỆN NAY

2.1.1. Những kết quả đạt được

2.1.2. Nguyên nhân của những kết quả đạt được

2.2. MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA HẠN CHẾ TRONG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG HIỆN NAY

2.2.1. Một số hạn chế

2.2.2. Nguyên nhân của hạn chế

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN HỌC VIỆN NGÂN HÀNG HIỆN NAY

3.1. PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP CỦA CÁC CHỦ THỂ THAM GIA GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN

3.1.1. Nâng cao nhận thức và phát huy vai trò của Đảng uỷ, Ban Giám hiệu nhà trường trong lãnh đạo, chỉ đạo thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên

3.1.2. Phát huy vai trò của cán bộ, giảng viên trong giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên

3.1.3. Phát huy vai trò tổ chức Đoàn và Hội sinh viên nhà trường trong giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên

3.2. PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ ĐỘNG, TÍCH CỰC, SÁNG TẠO, TỰ NGUYỆN, TỰ GIÁC TRONG GIÁO DỤC THẨM MỸ CỦA SINH VIÊN

3.3. ĐA DẠNG HÓA CÁC HÌNH THỨC GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN

3.4. XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA THẨM MỸ TRONG HỌC VIỆN, CHỦ ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI TRONG SINH VIÊN

3.5. KẾT HỢP GIỮA GIA ĐÌNH, NHÀ TRƯỜNG VÀ XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Sinh Viên Học Viện Ngân Hàng

Giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên Học viện Ngân hàng là một lĩnh vực quan trọng trong việc phát triển toàn diện nhân cách của sinh viên. Nó không chỉ giúp sinh viên nâng cao nhận thức về cái đẹp mà còn định hình tư tưởng và lối sống của họ. Theo nghiên cứu của TS. Trần Thị Thu Hường, giáo dục thẩm mỹ đóng vai trò thiết yếu trong việc hình thành nhân cách và phát triển năng lực thẩm mỹ cho sinh viên.

1.1. Khái Niệm Giáo Dục Thẩm Mỹ Là Gì

Giáo dục thẩm mỹ là quá trình giúp sinh viên nhận thức và đánh giá các giá trị thẩm mỹ trong cuộc sống. Nó bao gồm việc phát triển năng lực cảm thụ cái đẹp và khả năng sáng tạo nghệ thuật.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Giáo Dục Thẩm Mỹ

Giáo dục thẩm mỹ không chỉ giúp sinh viên phát triển năng lực cá nhân mà còn góp phần xây dựng nền văn hóa và con người mới. Nó tạo ra những giá trị tích cực trong xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.

II. Thực Trạng Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Sinh Viên Học Viện Ngân Hàng Hiện Nay

Thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên tại Học viện Ngân hàng hiện nay cho thấy nhiều kết quả tích cực nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế. Nhiều sinh viên đã có nhận thức đúng đắn về thẩm mỹ, nhưng vẫn còn một bộ phận chưa thực sự quan tâm đến vấn đề này.

2.1. Những Kết Quả Đạt Được Trong Giáo Dục Thẩm Mỹ

Nhiều sinh viên đã tham gia các hoạt động giáo dục thẩm mỹ như tham quan, thực tế và các hoạt động văn hóa nghệ thuật. Điều này giúp họ nâng cao nhận thức và thị hiếu thẩm mỹ.

2.2. Những Hạn Chế Trong Giáo Dục Thẩm Mỹ

Một số hạn chế trong giáo dục thẩm mỹ bao gồm việc tổ chức các hoạt động chưa thường xuyên và sâu rộng. Môn học về mỹ học chưa được đưa vào chương trình đào tạo chính thức, dẫn đến sự thiếu hụt kiến thức cho sinh viên.

III. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Sinh Viên

Để nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên, cần có những giải pháp đồng bộ từ nhà trường, gia đình và xã hội. Việc phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể cũng rất quan trọng.

3.1. Phát Huy Vai Trò Của Nhà Trường

Nhà trường cần tăng cường tổ chức các hoạt động giáo dục thẩm mỹ, lồng ghép vào chương trình đào tạo và khuyến khích sinh viên tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật.

3.2. Tăng Cường Hợp Tác Giữa Gia Đình Và Nhà Trường

Gia đình cần đóng vai trò tích cực trong việc giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên. Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường sẽ tạo ra môi trường giáo dục tốt nhất cho sinh viên.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Giáo Dục Thẩm Mỹ Trong Đời Sống Sinh Viên

Giáo dục thẩm mỹ không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn cần được áp dụng vào thực tiễn. Sinh viên cần có cơ hội để thực hành và trải nghiệm các giá trị thẩm mỹ trong cuộc sống hàng ngày.

4.1. Tham Gia Các Hoạt Động Văn Hóa Nghệ Thuật

Sinh viên nên tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật như biểu diễn, triển lãm và các sự kiện nghệ thuật để nâng cao khả năng cảm thụ và sáng tạo thẩm mỹ.

4.2. Ứng Dụng Giáo Dục Thẩm Mỹ Trong Cuộc Sống Hàng Ngày

Việc áp dụng các giá trị thẩm mỹ vào cuộc sống hàng ngày sẽ giúp sinh viên phát triển nhân cách và lối sống lành mạnh, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống.

V. Kết Luận Về Giáo Dục Thẩm Mỹ Cho Sinh Viên Học Viện Ngân Hàng

Giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên Học viện Ngân hàng là một lĩnh vực cần được chú trọng hơn nữa. Việc nâng cao nhận thức và phát triển năng lực thẩm mỹ cho sinh viên sẽ góp phần xây dựng con người mới, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.

5.1. Tương Lai Của Giáo Dục Thẩm Mỹ

Trong tương lai, giáo dục thẩm mỹ cần được tích hợp vào chương trình đào tạo một cách bài bản hơn, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển toàn diện cho sinh viên.

5.2. Đề Xuất Một Số Giải Pháp Cụ Thể

Cần có các giải pháp cụ thể như xây dựng chương trình đào tạo về mỹ học, tổ chức các hoạt động ngoại khóa và tăng cường sự tham gia của sinh viên trong các hoạt động văn hóa nghệ thuật.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

10/07/2025
Giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên học viện ngân hàng hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO SINH VIÊN HIỆN NAY 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Khái niệm giáo dục và giáo dục thẩm mỹ 1. Khái niệm giáo dục và vai trò của giáo dục Giáo dục xuất hiện từ buổi bình minh của loài người và từ xưa đến nay vẫn được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của xã hội.

Trong lao động và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, con người dần tích lũy được những kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo lao động, kinh nghiệm sống, quan điểm, tư tưởng, các chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết, kinh nghiệm đó cho nhau. Giáo dục, trước hết là sự truyền đạt những kinh nghiệm sống, trong đó cốt yếu nhất là kinh nghiệm lao động. Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình lĩnh hội và truyền đạt các kinh nghiệm về hoạt sản xuất vật chất, tinh thần của các thế hệ đi trước cho các thế hệ sau nhằm duy trì và phát triển cộng đồng xã hội. Giáo dục được hiểu như là quá trình thống nhất của sự hình thành thể chất và tinh thần của mỗi cá nhân trong xã hội.

Nó cung cấp, trang bị kiến thức, kỹ năng, rèn luyện đạo đức và lối sống cho con người để hòa nhập với cộng đồng của mình. Với cách hiểu này, giáo dục đóng vai trò là yếu tố không thể tách rời của cuộc sống con người và xã hội, là một phương thức của xã hội để đảm bảo giúp cho mỗi cá nhân hoàn thiện bản thân và phát triển toàn diện. Như vậy, giáo dục là hiện tượng nảy sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người, là một phạm trù xã hội chỉ có ở con người, phản ánh hoạt động đặc biệt của con người và mối quan hệ của con người khi tham gia hoạt động trong xã hội (tái sản xuất sản phẩm, tái sản xuất những nhu cầu và năng lực của con người). Theo Từ điển tiếng Việt, giáo dục là “Hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần có được những năng lực và phẩm chất như yêu cầu đề ra; Hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy - giáo dục của một nước” [101, tr.

Trong định nghĩa này, giáo dục được hiểu như là một quá trình, một hoạt động, trong đó có sự tác động của nhà giáo dục lên đối tượng giáo dục nhằm đạt được kết quả nhất định. Theo Từ điển Giáo dục học, giáo dục là “Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển những năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội” [34, tr. 15 Tác giả Hà Thế Ngữ, giáo dục là “quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người” [70, tr. Một số tác giả quan niệm, Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ.

Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo dục lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen, cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho học các hoạt động và giao lưu” [75, tr. Xem xét dưới góc độ triết học, có thể hiểu: Giáo dục là một quá trình bao gồm hai mặt. Mặt thứ nhất là, sự tác động từ bên ngoài vào đối tượng giáo dục. Mặt thứ hai là, thông qua sự tác động này làm cho đối tượng giáo dục tự biến đổi, phát triển để hoàn thiện bản thân.

Trong đó, mặt thứ hai giữ vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của đối tượng được giáo dục. Hiểu một cách khái quát, giáo dục là hoạt động, trong đó xã hội chuyển giao, còn mỗi cá nhân lĩnh hội tri thức, kỹ năng, giá trị của xã hội, nhằm biến những cái đó thành sở hữu, công cụ của cá nhân để tồn tại với tư cách một thành viên tích cực của xã hội. Như vậy, giáo dục là một quá trình hoạt động mang tính xã hội, có sự thống nhất giữa các chủ thể giáo dục và khách thể được giáo dục, là quá trình truyền đạt và tiếp nhận tri thức một cách có hệ thống với sự hỗ trợ của các phương tiện vật chất cần thiết. Nói cách khác, giáo dục là một quá trình hoạt động có sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt dạy và học.

Về bản chất, giáo dục là một quá trình làm hình thành nhận thức, tình cảm, thái độ đúng đắn, hình thành những thói quen, hành vi văn minh trong cuộc sống, phù hợp với chuẩn mực xã hội ở đối tượng giáo dục thông qua các hoạt động và giáo dục trực tiếp do chủ thể giáo dục đặt ra. Nghiên cứu đề tài này, nhóm tác giả quan niệm giáo dục là hoạt động được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, mục đích, phương pháp, hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường), gắn với quá trình dạy học, tổ chức các hoạt động nhằm bồi dưỡng cho người học những phẩm chất chính trị, đạo đức, những tri thức cần thiết về tự nhiên, xã hội và những kỹ năng cần thiết nhằm hình thành, phát triển nhân cách người được giáo dục. Sự ra đời và phát triển của giáo dục gắn liền với sự ra đời và phát triển của xã hội và phục vụ cho sự phát triển xã hội. Xã hội sẽ không phát triển nếu như không có 16 những điều kiện cần thiết do giáo dục tạo ra.

Tuy nhiên, sự phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định bởi xã hội thông qua những yêu cầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do sự phát triển của xã hội mang lại. Do đó, trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội. Đối với mỗi giai đoạn phát triển xã hội, mục tiêu giáo dục sẽ tương ứng với giai đoạn phát triển đó, bao gồm một hệ thống các yêu cầu xã hội cụ thể, các chuẩn mực của một hình mẫu nhân cách cần hình thành ở mỗi người được giáo dục. Dù được thực hiện theo hình thức nào, diễn ra ở đâu và do ai thực hiện, thì giáo dục vẫn là con đường chủ yếu để xây dựng con người phát triển toàn diện phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể.

Giáo dục được coi là một nhân tố tích cực, động lực, “chìa khóa” tạo nên nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Do vậy, trong thời đại ngày nay các quốc gia, dân tộc trên thế giới đã và đang tập trung đầu tư để phát triển giáo dục, coi giáo dục là “quốc sách hàng đầu” - nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng đất nước. Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các quốc gia, dân tộc trên thế giới không ngừng cải cách, đổi mới giáo dục nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng với xu thế phát triển mới, năng động của nhân loại và sự phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đồng thời, giáo dục được hiểu là dành cho tất cả mọi người và được thực hiện ở bất cứ thời gian, không gian nào, bằng các phương tiện khác nhau, cách thức các kiểu học tập đa dạng, linh hoạt, thích ứng với mọi sự biến đổi và mỗi đối tượng giáo dục.

Khái niệm giáo dục thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên Thứ nhất, khái niệm giáo dục thẩm mỹ. Là một bộ phận hợp thành của hệ thống giáo dục, giáo dục thẩm mỹ không thể đứng ngoài hoặc tách rời quá trình giáo dục chung và thống nhất, toàn diện trong xã hội. Trong lịch sử nghiên cứu mỹ học, giáo dục thẩm mỹ, xây dựng lối sống tinh thần cho con người đã được bàn đến từ rất sớm. Từ thời cổ đại đến hiện đại, các nhà mỹ học đã quan tâm rất nhiều đến giáo dục thẩm mỹ.

Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử, lập trường tư tưởng khác nhau, nên các trường phái, khuynh hướng mỹ học đã có những kiến giải khác nhau nội dung và cách thức giáo dục thẩm mỹ.Sinle trong “Những bức thư về giáo dục thẩm mỹ” đã cho rằng nhiệm vụ cơ bản của giáo dục thẩm mỹ là tìm một con đường cải tạo xã hội theo tinh thần dân chủ tư sản, không kinh qua cách mạng. Ông kêu gọi “Phải vận dụng việc giáo dục thẩm mỹ để khôi phục tính cách hoàn chỉnh” [100, tr.Xcacherosiccop khẳng định: “Việc giáo dục con người mới sẽ vô nghĩa nếu thiếu đi sự thống nhất của văn hoá thẩm mỹ, văn hoá đạo đức và văn hoá trí 17 tuệ” [53, tr. Bởi vậy, “Giáo dục thẩm mỹ tức là giáo dục sự hiểu biết, cảm xúc cái đẹp và lòng mong muốn xây dựng và thể hiện nó trong hiện thực, với mục đích mở rộng nhận thức của con người và xây dựng thế giới tình cảm của họ, phát triển và khẳng định quan hệ có tính người, nhân đạo đối với con người, đối với cuộc sống” [53, tr. Như vậy, giáo dục thẩm mỹ cũng là phương thức phù hợp với sự phát triển con người văn hoá - chủ thể thẩm mỹ.

Sự phát triển của con người với tư cách chủ thể thẩm mỹ như một cá nhân toàn vẹn (có tình cảm, lý trí sâu sắc, có năng lực sáng tạo cao) tất nhiên phải là kết quả của quá trình giáo dục tổng hợp (giáo dục tư tưởng, chính trị, pháp luật, đạo đức, khoa học). Bởi vì, nếu giáo dục bằng các bộ phận riêng rẽ, thì chủ thể thẩm mỹ sẽ bị hạn chế và phiến diện. Trong đó, giáo dục bằng khoa học chủ yếu nhằm phát triển trí tuệ năng lực chuyên môn của cá nhân. Giáo dục tư tưởng, chính trị, pháp luật sẽ phát triển cá nhân với tính cách là một công dân trong xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ