Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HẠ SĨ QUAN, BINH SĨ 1. Giáo dục pháp luật và giáo dục pháp luật cho hạ sĩ quan, binh sĩ 1. Khái niệm về giáo dục pháp luật Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam năm 2003: “Giáo dục pháp luật là quá trình tác động của cả hai nhân tố chủ quan và khách quan đến việc hình thành và phát triển ý thức pháp luật của cá nhân. Nhân tố khách quan là điều kiện kinh tế, chế độ chính trị xã hội, môi trường sống trực tiếp của cá nhân (gia đình, bạn bè.
Nhân tố chủ quan là hoạt động định hướng có tổ chức, có hệ thống của các thể chế trong nhà nước và xã hội” [13, tr. Theo Giáo trình lý luận về Nhà nước và pháp luật của một số cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật trong nước GDPL được định nghĩa là: “là hoạt động có định hướng, có mục đích trang bị kiến thức pháp luật, nhằm hình thành ở đối tượng được giáo dục những tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với yêu cầu của pháp luật” [18, tr. 107] hoặc là “Sự tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người một trình độ kiến thức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật” [18, tr. Như vậy, các hướng tiếp cận này có điểm chung khi xác định mục tiêu của GDPL.
Từ những định nghĩa này, GDPL được hiểu bao gồm cả hoạt động dạy học pháp luật trong các nhà trường và các hoạt động GDPL khác được thực hiện bởi nhà trường, gia đình và xã hội. Tuy nhiên, trên diễn đàn khoa học pháp lý hiện nay, GDPL vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất, còn tồn tại trong khoa học cũng như trong thực tiễn những cách hiểu khác nhau về 7 khái niệm này. Nghiên cứu một số quan niệm về GDPL hiện nay, có thể khái quát GDPL được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, GDPL là quá trình tác động, ảnh hưởng bởi những điều kiện khách quan của đời sống xã hội, môi trường sống, điều kiện sống, làm việc của con người, của những yếu tố chủ quan, sự tự giác, tự ý thức, … GDPL là quá trình hình thành ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý của các thành viên xã hội, quá trình đó chịu sự tác động của những điều kiện khách quan và chủ quan.
Trong đó, điều kiện khách quan (Chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường sống…) là nhân tố ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực; nhân tố chủ quan bao giờ cũng là sự tác động tự giác, tích cực, có ý thức, có chủ định theo định hướng xác định nhằm đạt được mục đích của chủ thể tác động. Theo nghĩa hẹp, GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và cá nhân (chủ thể giáo dục) tác động đến đối tượng giáo dục nhằm cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm pháp luật và tạo lập thói quen tuân thủ pháp luật. Từ những phân tích trên, luận văn tập trung nghiên cứu khái niệm GDPL theo nghĩa hẹp, theo đó GDPL được hiểu là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, theo nội dung và thông qua những phương pháp, hình thức nhất định từ phía chủ thể giáo dục pháp luật, tác động đến đối tượng tiếp nhận GDPL nhằm hình thành và phát triển ở họ hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết pháp luật; làm hình thành tình cảm, thói quen và hành vi xử sự tích cực theo pháp luật. Giáo dục pháp luật cho hạ sĩ quan, binh sĩ Nghiên cứu vấn đề GDPL cho HSQBS, trước hết cần xác định rõ HSQBS - đối tượng tiếp nhận GDPL; thấy được vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của họ trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam.
Theo Luật 8 Nghĩa vụ quân sự năm 2015, HSQBS là công dân đang phục vụ trong lực lượng thường trực của QĐND Việt Nam. Hạ sĩ quan là quân nhân có quân hàm hạ sĩ, trung sĩ, thượng sĩ; binh sĩ là quân nhân có quân hàm binh nhất, binh nhì phục vụ trong QĐND Việt Nam. Theo Điều 21, Luật nghĩa vụ quân sự, thời hạn phục vụ tại ngũ của HSQBS là 24 tháng. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng được quyết định kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của HSQBS nhưng không quá 06 tháng trong những trường hợp cụ thể.
HSQBS trong quân đội có tuổi đời còn trẻ, mang đầy đủ những đặc điểm về tâm, sinh lý của tuổi trẻ; có cơ cấu đa dạng; xuất thân từ nhiều giai tầng xã hội, thành phần kinh tế, đại bộ phận xuất thân từ nông thôn. Đây là lực lượng đông đảo, chủ yếu trong tổ chức biên chế ở các đơn vị cơ sở của quân đội, là những người trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể trong xây dựng đơn vị, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu cũng như các nhiệm vụ khác (công tác, lao động sản xuất,. Với đặc điểm trên của HSQBS nên GDPL cho HSQBS của quân đội nói chung, Quân chủng PK-KQ nói riêng trong giai đoạn hiện nay là một trong những yêu cầu có tính khách quan, cấp thiết; là hoạt động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, hướng tới cung cấp, trang bị cho HSQBS những kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật; từ đó hình thành ý thức tôn trọng pháp luật, biết tuân thủ, chấp hành pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội; sử dụng pháp luật một cách chủ động, tích cực và đúng đắn; góp phần phát huy vai trò, hiệu lực của pháp luật nói chung, điều lệnh, điều lệ quân đội nói riêng trong hoạt động thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng QĐND Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. GDPL cho HSQBS có một số đặc điểm có thể thấy là: Thứ nhất, GDPL là hoạt động thể hiện sự tương tác giữa chủ thể GDPL và đối tượng GDPL.
9 Theo nguyên tắc đó, GDPL cho HSQBS cũng là những hoạt động thông qua sự tác động qua lại giữa chủ thể và đối tượng. Chủ thể GDPL ở đây chính là lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị các cấp, đội ngũ giáo viên giảng dạy pháp luật, báo cáo viên pháp luật (BCVPL), tuyên truyền viên pháp luật, đội ngũ cán bộ quản lý. Đối tượng tiếp nhận ở đây chính là HSQBS đang học tập, công tác trong các nhà trường, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp của quân đội. Thứ hai, GDPL cho HSQBS là hoạt động có định hướng, có mục đích, bao hàm những tác động tự giác, tích cực, theo kế hoạch đã xác định của chủ thể GDPL lên đối tượng GDPL là HSQBS tương ứng với các nội dung cụ thể.
Tính định hướng, mục đích trong hoạt động của chủ thể GDPL mang tính khách quan, phản ánh những yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống về kiến thức, hiểu biết pháp luật của HSQBS, được chủ thể GDPL truyền đạt, chuyển hóa thành nhu cầu của HSQBS. Quá trình GDPL cho HSQBS chỉ đạt được mục tiêu, hiệu quả đề ra khi chính họ thực sự tự giác, tích cực biến những yêu cầu pháp luật khách quan thành nhu cầu nội tại của bản thân. Thứ ba, GDPL cho HSQBS luôn thực hiện theo chương trình, nội dung và hình thức cụ thể. Quá trình GDPL cho HSQBS luôn tuân theo chương trình, nội dung cụ thể, dựa trên các phương pháp GDPL khoa học, hiện đại và các hình thức GDPL phù hợp với đặc điểm tình hình của từng đơn vị quân đội nhằm hiện thực hóa tối ưu các mục tiêu GDPL.
Quá trình GDPL phải có kế hoạch, nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Đồng thời, phải đạt được mục tiêu, hiệu quả mà chủ thể GDPL đặt ra và cũng là những tiêu chí để đánh giá chất lượng công tác GDPL. Từ sự phân tích những vấn đề nêu trên, quan niệm về GDPL cho HSQBS được hiểu là hoạt động có định hướng, có tổ chức, do các chủ thể 10 GDPL tiến hành theo kế hoạch, chương trình, nội dung, phương pháp và hình thức nhất định tác động đến HSQBS nhằm hình thành và phát triển ở HSQBS hệ thống tri thức pháp luật, trình độ hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật, tình cảm pháp luật và hành vi phù hợp với các yêu cầu của pháp luật, góp phần bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của pháp luật trong môi trường quân đội, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật quân đội, đáp ứng yêu cầu xây dựng QĐND Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Mục đích của giáo dục pháp luật Xác định rõ mục đích của GDPL có vai trò rất quan trọng, vì nếu xác định không rõ ràng, đúng đắn mục đích thì chủ thể GDPL không thể đưa ra nội dung, phương pháp, hình thức GDPL phù hợp, việc thực hiện GDPL sẽ không hiệu quả.
Mục đích của GDPL được xem xét trên nhiều góc độ tùy thuộc vào đối tượng giáo dục, cấp độ giáo dục cũng như hình thức giáo dục. Nhìn chung, mục đích GDPL có thể gồm mục đích lâu dài hoặc trước mắt nhưng đều phải đạt được ba vấn đề cơ bản sau: Một là, GDPL phải đạt được mục tiêu nhận thức Giáo dục pháp luật cho bất kỳ đối tượng nào, trước hết, cũng đều nhằm cung cấp, trang bị những thông tin, kiến thức, sự hiểu biết pháp luật, góp phần hình thành, củng cố và nâng cao ý thức pháp luật. Đây là mục đích quan trọng đầu tiên của GDPL bởi vì sự hiểu biết pháp luật sẽ là cơ sở để đối tượng GDPL tin tưởng vào chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm sự phát triển tư duy pháp lý, định hướng các hành vi của họ trên thực tế và xây dựng lòng tin vào các giá trị pháp luật, các chuẩn mực pháp lý cần thiết giúp cho đối tượng GDPL chủ động xác lập hành vi và chịu trách nhiệm pháp luật trước xã hội. Do vậy, GDPL là hoạt động có vai trò quan trọng đối với quá trình mở rộng khối lượng tri thức pháp lý, nâng cao khả năng hiểu biết pháp luật một cách toàn diện, thống nhất với chủ thể.
11 Hai là, GDPL có mục đích hình thành, khơi dậy tình cảm và niềm tin đối với pháp luật.