Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ VÀ GIAO TIẾP CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI. Tổng quan các các công trình nghiên cứu về giáo dục phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ mẫu giáo 1. Trên Thế giới Ngôn ngữ là tài sản quý báu của nhân loại. Nó tồn tại và phát triển đi lên cùng với xã hội loài người, nó luôn đồng hành và là phương tiện giao tiếp của con người.
Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy, là điểm mốc then chốt giúp cho nhiều công trình nghiên cứu được tỏa sáng. Không những thế ngôn ngữ còn có sức hút mạnh mẽ, lôi cuốn sự tham gia nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học vĩ đại từ những lĩnh vực khác nhau như : Triết học, tâm lí học, ngôn ngữ học, giáo dục học, xã hội học, v. và đã đạt được những thành tựu to lớn. Có thể kể đến các tác giả như: A.Barodis với cuốn: Phương pháp phát triển tiếng cho trẻ em (NXBGD Matxcơva – 1974).
Xôkhin với tác phẩm: Phương pháp phát triển lời nói trẻ em (NXBGD Matxcơva – 1979).Tikheeva với tác phẩm: Phát triển ngôn ngữ trẻ em (NXBGD – 1997).Lomarep cũng có những cuốn sách tương tự.Tikheeva đã đề ra phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách hệ thống, trong đó bà nhấn mạnh cần dựa trên cơ sở tổ chức cho trẻ tìm hiểu thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ, dạo chơi, xem tranh, kể chuyện cho trẻ nghe v. Bà đưa ra các biện pháp cụ thể để phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ mẫu giáo như: nói chuyện với các em, giao nhiệm vụ cho các em, đàm thoại, kể chuyện, đọc truyện, thư từ, học thuộc lòng thơ ca. Những tư tưởng này đến nay vẫn còn nguyên giá trị đối với việc giáo dục phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non [10]. 7 Ngoài ra, chúng ta cũng có thể kể đến nghiên cứu của một số tác giả của các thuyết có liên quan đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non như: Skinner trong cuốn “Hành vi ngôn ngữ” cho rằng ngôn ngữ cũng giống như các hành động khác được lĩnh hội nhờ sự hình thành mang tính thao tác.
Theo Skin- ner (1975), ngôn ngữ được coi như một loại hành động, được hình thành nhờ thói quen được lặp đi lặp lại một cách máy móc, chính vì thế, ngôn ngữ là kết quả của quá trình trẻ nhận tác động từ người lớn, phản ứng với hành động của người lớn bằng cách bắt chước, người lớn củng cố hành động ngôn ngữ của trẻ [25] Chomsky (1985) là người đại diện cho thuyết chủ nghĩa tự nhiên, cho rằng con người ngay từ khi mới sinh ra có thể lĩnh hội ngôn ngữ nhờ vào cơ chế lĩnh hội ngôn ngữ bẩm sinh (LAD). Mặc dù có tính di truyền phức tạp, LAD đảm bảo ngôn ngữ được lĩnh hội ngay từ giai đoạn đầu ( Pinker, 1994). Dù không nhận được sự hướng dẫn có hệ thống của người lớn nhưng nhờ cơ chế lĩnh hội ngôn ngữ bẩm sinh , trẻ vẫn có thể lĩnh hội ngôn ngữ dễ dàng và sử dụng câu đúng ngữ pháp. Học thuyết của Chomsky coi ngôn ngữ là hiện tượng có cơ sở sinh học, là thành tựu chỉ của con người [25] Nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm của Chomsky là Lenneberg.
Ông phát triển nghiên cứu về cơ sở sinh vật học của sự lĩnh hội ngôn ngữ và nhận định rằng ngôn ngữ là hiện tượng có bản chất di truyền, ngôn ngữ không được học tập theo kinh nghiệm và môi trường. Ông tuyệt đối hóa yếu tố sinh học và phủ nhận vai trò của yếu tố gia đình, môi trường trong việc phát triển ngôn ngữ. Nghiên cứu của ông chỉ ra rằng ngôn ngữ là hành động chỉ có ở con người và quá trình tâm lí liên quan đến sự lĩnh hội ngôn ngữ được quyết định nhờ các yếu tố sinh học. Cấu trúc cơ thể con người ngay từ khi mới ra đời đã được hình thành sao cho phù hợp với sự phát triển ngôn ngữ, chính vì thế , chỉ con người mới có khả năng lĩnh hội ngôn ngữ [25].
Theo Jean Piaget, trong các thời kỳ phát triển trí tuệ thì ngôn ngữ của trẻ được phát triển nhanh chóng ở thời kỳ cảm giác vận động (từ 0 – 2 tuổi) và thời kỳ tiền thao tác ( từ 2 – 7 tuổi). Ở thời kỳ cảm giác vận động, trẻ nhận thức môi trường xung quanh thông qua kinh nghiệm cảm giác và hoạt động thể lực. Kiến thức đó 8 được thể hiện thông qua ngôn ngữ của trẻ. Vì thế, những từ đầu tiên mà trẻ sử dụng đa số là danh từ chỉ tên gọi của vật thể quen thuộc với trẻ.
Năng lực biểu tượng và bắt chước được coi là đặc trưng của ngôn ngữ ở thời kỳ vận động cảm giác, tính trọng tâm bản ngã được coi là đặc trưng trí tuệ ở thời kỳ tiền thao tác [25].Vygotsky (1962) là người đại diện cho thuyết tương tác xã hội. Ông cho rằng ngôn ngữ của trẻ được hình thành và phát triển nhờ trải qua quá trình tương tác liên tục và phức tạp của môi trường xã hội ( nơi cung cấp kinh nghiệm ngôn ngữ cho trẻ) với các yếu tố bẩm sinh của trẻ. Ông lập luận rằng hoạt động tinh thần của con người là kết quả của hoạt động học tập có tính chất xã hội chứ không phải là hoạt động học tập một cách cá thể. Khi trẻ gặp phải những nhiệm vụ khó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác với người lớn và với bạn bè có năng lực cao hơn, những người này sẽ hỗ trợ, khuyến khích trẻ hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Do ngôn ngữ là phương thức đầu tiên mà qua đó, con người trao đổi những giá trị xã hội nên ngôn ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển tư duy [25]. Jerome Seymour Bruner (1978) cũng đồng tình với quan điểm của L. Ông tin rằng ngôn ngữ được phát triển thông qua cơ chế tương tác xã hội và đưa ra hệ thống hỗ trợ sự lĩnh hội ngôn ngữ. Khi trẻ mới bắt đầu nói, trẻ học nói thông qua tương tác với mẹ.
Quá trình học tiếng mẹ đẻ của trẻ xảy ra ở nơi trẻ đang sống vì thế trẻ cần có cả cơ chế lĩnh hội ngôn ngữ bẩm sinh và sự hướng dẫn của người lớn [25]. Tác giả Kak Hai Nodich [13] người Đức đã nêu rõ ngôn ngữ của trẻ có một vai trò quan trọng và quá trình phát triển ngôn ngữ ở từng giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn, nhiệm vụ của người lớn là giúp trẻ thâm nhập vào thế giới ngôn ngữ phong phú và đa dạng, dẫn dắt trẻ từ những âm thanh “gừ, gừ” ở tuổi sơ sinh đến sử dụng, nắm vững ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kỹ năng giao tiếp và trí tuệ của trẻ. Trẻ sơ sinh chưa có ngôn ngữ, chưa biết cách giao tiếp, các bậc phụ huynh cần phải bắt đầu công việc can thiệp như: luyện âm, luyện giọng, luyện hơi sau đó đến luyện nói.
Bằng những ví dụ, cách làm cụ thể, 9 thiết thực tác giả đã giúp các bậc phụ huynh có con ở giai đoạn lứa tuổi này có thêm những kiến thức cơ bản trong việc giáo dục và dạy dỗ giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp. Để nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ, tác giả Linda Maget [14] đã giới thiệu những kỹ năng giao tiếp xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong việc kết giao bạn bè. Muốn giúp trẻ giao tiếp phải tạo môi trường giao tiếp cho trẻ, phải cho trẻ học, chơi với bạn thì mới làm xuất hiện, nảy sinh nhu cầu giao tiếp. Tác giả đã giúp cho phụ huynh có con ở lứa tuổi mẫu giáo biết cách lựa chọn môi trường giáo dục phù hợp để trẻ phát triển KNGT.
Tác giả Steven Gutstin cho rằng để giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp cần phải hình thành và phát triển mối quan hệ xã hội [30], giúp trẻ hiểu được bản thân trẻ (tên gọi, các bộ phận cơ thể), hiểu được mối quan hệ giữa trẻ và các đồ vật trong gia đình (tên gọi, đặc điểm, cách sử dụng), mối quan hệ giữa trẻ và các sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh. Trong mỗi hoàn cảnh, tình huống có vấn đề trẻ biết cách giao tiếp phù hợp. Tác giả đã giúp cho GV, phụ huynh biết được một phương pháp mới trong việc phát triển KNGT cho trẻ. Tóm lại, trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến việc giáo dục phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ mầm non.
Tại Việt Nam Nghiên cứu về đặc điểm phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non theo hướng cấu trúc ngôn ngữ: Có thể kể ra đây các giáo trình đầu tiên của bộ môn khoa học phương pháp phát triển ngôn ngữ trẻ em: Tiếng Việt và phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em ( Cao Đức Tiến, Nguyễn Quang Ninh, Hồ Lam Hồng, 1993); Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ MG (Nguyễn Xuân Khoa, 1999). Ngoài ra, còn có một số công trình khác cũng tập trung xung quanh vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non. Do tác giả của những công trình hầu hết có xuất phát điểm căn bản đều là những nhà ngôn ngữ học nghiên cứu sang lĩnh vực ngôn ngữ trẻ em, do vậy những giáo trình và công trình nghiên cứu này đều nghiêng về hướng nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ theo phương diện cấu trúc. Hướng biên soạn giáo trình và đề tài nghiên cứu đều xoay quanh việc trẻ sẽ lĩnh hội các đơn vị ngôn ngữ như 10 thế nào.
Nghiên cứu quá trình phát triển ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp là những từ khóa của hầu hết các đề mục trong giáo trình và các đề tài nghiên cứu. Chẳng hạn như “Các biện pháp phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ MG”( Nguyễn Thị Oanh), “Biện pháp dạy trẻ 5 – 6 tuổi nói đúng ngữ pháp” (Võ Phan Thu Hương), “Một số biện pháp nâng cao mức độ hiểu từ của trẻ 5 – 6 tuổi” (Đỗ Thị Xuyến, 1998) v.33] Sau nhiều năm nghiên cứu, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng chương trình khung Giáo dục mầm non năm 2009 và bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi, đây là kim chỉ nam cho giáo viên mầm non trong các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ tại trường mầm non. Trong đó, ngôn ngữ và giao tiếp được tách ra hẳn thành một trong năm lĩnh vực cần phải phát triển cho trẻ. + Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ MG ( Nguyễn Xuân Khoa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999).
+ Phương pháp phát triển lời nói trẻ em ( Đinh Hồng Thái, Nxb, ĐHSP,2004).