CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ BẢO VỆ CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Trên thế giới, nội dung Giáo dục KNS, KN TBV đã được nhiều nước đưa vào giáo dục cho HS bằng nhiều hình thức khác nhau. Đặc biệt được chú trọng ở các quốc gia phát triển như: Hoa Kỳ, Pháp, Canada, Thụy Sĩ, Singapore, Trung Quốc.
Dự án về “Phát triển trẻ thơ toàn diện” (2020 - 2025) của UNESCO phối hợp cùng với WHO và UNICEF đã tập trung công sức vào những lĩnh vực quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với đời sống trẻ em như: chế độ dinh dưỡng cho trẻ, kích thích trẻ phát triển toàn diện, làm thế nào để nuôi dạy trẻ an toàn trong hoàn cảnh loạn lạc, về giáo dục tiền học đường, huy động mọi lực lượng và tài nguyên cả hiện đại lẫn cổ truyền nhằm cải thiện những năng lực và tiện nghi cho trẻ. Với dự án này, UNESCO mong muốn tìm cách góp phần một cách lâu dài của mình để giúp trẻ phát triển và tự tin vào đời. Thanh thiếu niên ở các nước phương Tây đã được trang bị những KN xử lý các tình huống trong cuộc sống, đó là KN quan trọng giúp con người có kết quả làm việc tốt hơn, chất lượng hơn và thành công hơn trong cuộc sống. Ở nước Mỹ, quan điểm giáo dục của quốc gia này là người học phải được phát triển toàn diện, trong đó sức khỏe thể chất, tinh thần và các KN cho HS luôn được chú trọng và quan tâm hàng đầu.
Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em đã được quan tâm, chú trọng về Giáo dục KNS. Các nhà giáo dục Mỹ cho rằng những năm đầu đời, Giáo dục KNS còn quan trọng hơn việc trang bị kiến thức; KNS còn quan trọng hơn thành tích học tập của HS. Các bài học về KNS, kỹ năng sinh tồn được trang bị cho HS nắm vững ngay từ khi còn thơ ấu. Trong quãng thời gian 5 năm của cấp tiểu học, HS được rèn luyện rất nhiều về KN TBV, KN giao tiếp ứng xử với bạn bè và những người xung quanh.
HS không những học ở trường mà các bậc cha mẹ còn quan tâm cho con theo học ở các trung tâm. HS được thực hành nhiều về xử lý tình 6 huống như kỹ năng trốn thoát khi có hỏa hoạn, động đất, nguy hiểm tính mạng… Điều này đã giúp giảm thiểu rất nhiều nguy cơ nếu chẳng may các em rơi vào tình huống không an toàn của cuộc sống. Tại Bỉ, nhiều đề tài nghiên cứu về Giáo dục KNS cho HSTH đã khẳng định giúp cho HS tự tập và tạo điều kiện, tạo môi trường để HS phát triển kỹ năng sống là một trong những sứ mạng của các nhà trường tiểu học. Các nghiên cứu cho rằng, muốn hình thành cho HS nhân cách tốt thì cần phải cho HS học KNS và kỹ năng tự lập.
Cộng Hòa Liên bang Nga là một nước rất quan tâm đến Giáo dục KNS, KN TBV cho HS. Trong chương trình giáo dục của Liên bang Nga đã có một số chương trình GDKN xã hội, việc bản thân trước những tình huống khó khăn trong cuộc sống dành cho trẻ em và phụ huynh được. đặc biệt chú trọng. Các quốc gia trong khu vực Châu Á nói chung và những nước trong khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam đều rất coi trọng việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp Giáo dục KNS cơ bản, KN an toàn và TBV cho HS.
Quốc gia rất coi trọng Giáo dục KNS cho HS ngay từ những năm tháng đầu đời chính là Nhật Bản. Chương trình học ở các trường tại Nhật Bản tuy không có môn học KNS riêng lẻ nhưng việc dạy KNS được lồng ghép, tích hợp thông qua các môn học, nhất là thông qua môn đạo đức. Người Nhật Bản luôn có quan niệm, nơi đầu tiên ươm mầm sống cho những KN của HS đó chính là gia đình. Điều quan trọng nhất trong giáo dục Nhật Bản là trang bị cho học sinh KNS, KN sinh tồn khi xảy ra thảm họa thiên nhiên hay động đất.
Từ tiểu học, học sinh Nhật Bản đã được giáo dục rất kỹ về KN xử trí cũng như bản lĩnh, giữ vững tinh thần khi gặp động đất, hỏa hoạn, thiên tai xảy ra. Các em được hướng dẫn tỷ mỉ là phải làm thế nào, xử trí ra sao nếu như động đất xảy ra, tìm nơi ẩn nấp thế nào cho an toàn và quan trọng hơn hết chính là phải bình tĩnh, kiềm chế sự sợ hãi, không hoảng loạn, xô đẩy nhau. Người Nhật quan niệm rằng dạy KNS cho HS phải dạy ngay từ khi các em mới sinh ra chứ không phải khi đi học mới bắt đầu dạy. Người quan trọng nhất có ảnh hưởng rất lớn, người thầy đầu tiên dạy HS những KN ấy không ai khác chính là 7 cha mẹ các em.
Giáo dục KNS cho HS ở Nhật chú trọng vào một số KN như: kỹ năng tự lập, kỹ năng tự nhận thức bản thân, kỹ năng giao tiếp - ứng xử. Đây là nhóm KN rất quan trọng giúp HS ở Nhật tự bảo vệ mình được tốt. Tại Việt Nam Ở Việt Nam, việc Giáo dục KNS, KN tự bảo vệ cho HS là vô cùng cần thiết và phù hợp với mục tiêu giáo dục, nhằm góp phần đào tạo thế hệ trẻ với đầy đủ “đức, trí, thể, mỹ” để các em được phát triển toàn diện đáp ứng những yêu cầu của xã hội, của thời đại. Điều này thể hiện rất rõ trong Công văn số 463/BGDĐT- GDTX ngày 28/01/2015 của Bộ GD&ĐT về việc Hướng dẫn triển khai thực hiện Giáo dục KNS tại các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên với mục đích “Đẩy mạnh hoạt động Giáo dục KNS cho học sinh theo định hướng phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của học sinh gắn với định hướng nghề nghiệp…”.
Thông tư số: 31/2017/TT-BGDĐT hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý HS trong trường phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Những năm gần đây, GDKN tự bảo vệ cho HS là một trong những vấn đề được quan tâm nhiều trong các chuyên đề, hội thảo về đổi mới giáo dục. Với ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết cho mọi người đặc biệt là với trẻ em lứa tuổi HSTH. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với Uỷ ban ATGT quốc gia và Bộ Công an đưa ra “Chương trình giảng dạy An toàn giao thông Toyota cùng em đến trường và tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu Luật an toàn giao thông” cho HS từ mầm non đến trung học phổ thông nhằm mục đích trang bị cho các em những hiểu biết ban đầu về các quy định An toàn giao thông, Luật giao thông.
Tuy nhiên, nội dung chương trình mới chỉ tập trung cung cấp lý thuyết, đưa ra các thông điệp về an toàn giao thông chứ chưa tập trung vào việc sử dụng các hình thức, phương pháp giáo dục tích để người học thay đổi các hành vi. Nhìn chung, các chương trình trên đã giúp các nhà trường nói chung và trẻ em, thanh thiếu niên nói riêng nhận thức được sự cần thiết của KN TBV đối với bản thân các em. Qua đó bước đầu đã giáo dục thanh thiếu niên hình thành KN cơ bản để TBV mình. Các chương trình đó đã góp phần không nhỏ nâng cao nhận thức của 8 gia đình, xã hội trong việc thực hiện quyền trẻ em.
Tuy nhiên, các chương trình này phạm vi triển khai chưa rộng rãi lại được thực hiện trong thời gian ngắn, không đảm bảo tính thường xuyên, liên tục nên lợi ích đem lại cho đối tượng thụ hưởng trong chương trình không cao. Mặt khác, các chương trình, dự án này chủ yếu tập trung giáo dục KN tiết chế cảm xúc của bản thân, KN phòng chống quấy rối tình dục đối với HS trung học cơ sở, trung học phổ thông chứ chưa có nhiều nội dung, chưa có nhiều chương trình, dự án quan tâm tới HSTH. Đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh Cvid-19 hiện nay thì việc rèn kĩ năng TBV trước dịch bệnh, những ảnh hưởng của hậu covid là rất cần thiết từ đó cho thấy việc quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng TBV cho HS là cần thiết và phải được làm bài bản; Trong nhiều năm nay, nội dung Giáo dục KNS nói chung và GDKN TBV nói riêng cho HS đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm đưa vào các trường học. Đây là vấn đề mà các nhà nghiên cứu rất trăn trở, dành sự quan tâm đặc biệt.
Nhiều tác giả đã có rất nhiều đóng góp trong lĩnh vực này, tiêu biểu là tác giả Nguyễn Thanh Bình với rất nhiều các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, các bài báo và các giáo trình viết về Giáo dục KNS cho HS. Tác giả Nguyễn Thanh Bình là người tạo ra những hướng nghiên cứu riêng về KNS và Giáo dục KNS ở Việt Nam. Bên cạnh đó là các tài liệu nghiên cứu như: Giáo dục giá trị và KNS cho học sinh phổ thông [10] của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Giáo dục giá trị và KNS cho học sinh tiểu học [11] của các tác giả Bùi Thị Thúy Hằng, Đinh Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Mỹ Lộc; tác giả Nguyễn Thị Oanh với nghiên cứu “Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên [13]; Đổi mới phương pháp, hình thức trong hoạt động giáo dục KNS cho học sinh [16] của tác giả Phạm Văn Sơn. Theo các tác giả, KNS và Giáo dục KNS có vai trò vô cùng quan trọng trong các nhà trường, nếu không có KNS thì con người sẽ không thể có nền tảng giá trị sống và sẽ gặp vô vàn khó khăn trong cuộc sống.
Từ các nghiên cứu, các tác giả đã khẳng định muốn làm thay đổi các hành vi của HS thì các em phải chủ động tham gia vào các hoạt động Giáo dục KNS. Từ các nghiên cứu khoa học trên, các tác giả cũng đã đưa ra các biện pháp cũng như cách thức tổ chức hoạt động Giáo dục KNS cho học sinh. Tóm lại giáo dục KNS có vai trò rất cấp thiết trong quá trình giáo dục ở Việt Nam và các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thể giới. Tuy nhiên, việc triển khai thực 9 hiện Giáo dục KNS ở các quốc gia hầu như là vấn đề mới nên cơ sở lý luận mặc dù rất phong phú nhưng chưa thật sâu sắc và toàn diện.
Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra nội dung Giáo dục KNS có tác động lớn đến sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của HS.