Chương I, Điều lệ Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam xác định nhiệm vụ của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, lối sống; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia xây dựng chính sách, pháp luật về bình đẳng giới trong chính trị, kinh tế, giáo dục - đào tạo, tư pháp, hôn nhân gia đình, phòng chống TNXH.; Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật; giải quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo có liên quan đến phụ nữ và trẻ em, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý; phối hợp giám sát việc thực hiện Bộ luật Lao động, luật Hôn nhân và Gia đình, các chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với nước; thu hút 9 hội viên phụ nữ tham gia vào tổ chức Hội; hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập, bảo vệ môi trường; Tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát; thực hiện công tác đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện, hậu phương quân đội; công tác đối ngoại nhân dân. Cơ cấu tổ chức và các mối quan hệ phối hợp hoạt động của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, liên hiệp, thống nhất hành động. Cơ quan lãnh đạo Hội LHPN các cấp do bầu cử lập ra, thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức. Đại hội các cấp được tổ chức năm năm một lần.
Trường hợp đặc biệt do Hội cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định theo quy định. Thành phần, số lượng đại biểu đại hội cấp nào do Ban Chấp hành cấp đó quyết định và triệu tập. Đại hội chỉ hợp lệ khi có ít nhất 2/3 số đại biểu được triệu tập tham dự. Đại hội nhằm đánh giá phong trào phụ nữ; kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết đại hội; Thảo luận dự thảo văn kiện Đại hội đại biểu Phụ nữ cấp trên trực tiếp và dự thảo văn kiện Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc; quyết định phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ tới.
Quyết định số lượng, cơ cấu, nhân sự và bầu Ban Chấp hành đảm bảo tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định. Bầu đại biểu dự đại hội cấp trên trực tiếp. Cơ quan lãnh đạo các cấp Hội được quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, song không được trái với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của Hội cấp trên. Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức thống nhất trong cả nước với hệ thống tổ chức chặt chẽ ở 4 cấp: Cấp Trung ương; Cấp tỉnh (bao gồm Hội Liên hiệp Phụ nữ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương); Cấp huyện (bao gồm Hội Liên hiệp Phụ nữ các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương); Cấp cơ sở (bao gồm Hội Liên hiệp Phụ nữ các xã, 10 phường, thị trấn và tương đương).
Bên cạnh đó, ở thôn, bản, làng, ấp, buôn, sóc, phum, tổ dân phố, khu phố…có chi hội phụ nữ do Hội Liên hiệp phụ nữ xã, phường, thị trấn thành lập, trong chi hội được chia ra nhiều tổ hội. Cơ quan chuyên trách các cấp Hội: Trung ương Hội; Hội Liên hiệp Phụ nữ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Hội Liên hiệp Phụ nữ các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp việc cho Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch hoặc Ban Thường vụ cùng cấp. Vậy, nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội, đây là một nhiệm vụ trọng tâm của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam để Hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam quy định.
Lý luận và pháp luật về giám sát của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò giám sát của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam 1. Khái niệm giám sát của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì thuật ngữ “giám sát” được ghi là: “Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” hoặc: “Là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loại công việc nhất định”. Hiện nay, thuật ngữ giám sát cũng được sử dụng khá phổ biến trong hầu hết văn bản pháp luật của nước ta hiện nay.
Cụ thể một số văn bản sau đây: - Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”; - Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015: “Chính quyền địa phương tạo điều kiện để Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội động viên Nhân dân tham gia xây dựng và củng cố chính 11 quyền nhân dân, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của chính quyền địa phương”; - Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp” Hoạt động giám sát của các chủ thể bên ngoài vào hệ thống nhà nước được gọi là giám sát chính trị - xã hội. Giám sát chính trị - xã hội phân biệt với giám sát nhà nước ở chỗ: chủ thể giám sát chính trị - xã hội là nhân dân (nhân dân trực tiếp giám sát hoặc thông qua các tổ chức do mình uỷ nhiệm). Đối tượng giám sát chính trị - xã hội là các cơ quan quyền lực nhà nước. Giám sát chính trị - xã hội không mang tính quyền lực nhà nước.
Như vậy, giám sát có nhiều cách nhìn nhận, cách thể hiện cách diễn đạt khác nhau nhưng chúng ta có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về giám sát như sau: Giám sát là một phạm trù dùng để chỉ các hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc làm nào đấy, xem việc làm đó đã được thực hiện đúng hoặc sai những điều đã quy định. Căn cứ vào Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị ghi nhận là “Giám sát xã hội”, đây là hoạt động thực hiện chức năng giám sát nhân dân, không phải là giám sát trong hệ thống tổ chức các cơ sở Đảng, trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước. Tức là giám sát với mục đích nhận xét, đánh giá, đề xuất, kiến nghị, bổ sung cho phù hợp với đời sống của xã hội, phù hợp với điều kiện hiện nay. Đối với việc giải quyết các đề xuất, kiến nghị đó hay không thì tùy thuộc vào các cơ quan, đơn vị được giám sát theo quy định của pháp luật.
Với hệ thống các văn bản trên thì giám sát của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam mang tính chất giám sát xã hội, chỉ là việc “theo dõi, phát hiện, kiến nghị” và có biện pháp tác động để cơ quan nhà nước xử lý. Đặc điểm giám sát của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Theo Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị tại khoản 2, Điều 5 quy định giám sát: “Việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước (trừ những vấn đề thuộc bí mật quốc gia) của cơ quan, tổ chức và cá nhân”. Hoạt động giám sát của Hội LHPN Việt Nam nhằm góp phần xây dựng và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại; kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị bổ sung, sửa đổi các chính sách cho phù hợp với các tầng lớp nhân dân và hội viên phụ nữ. Chủ thể, giám sát của Hội LHPN Việt Nam rất rộng đó tổ chức Hội ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở và toàn thể cán bộ, hội viên, phụ nữ.
Giám sát là quyền, trách nhiệm của tổ chức Hội LHPN các cấp, toàn thể cán bộ Hội và hội viên phụ nữ. Đối tượng giám sát của Hội LHPN Việt Nam được xác định: Các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến cơ sở. Về cá nhân: giám sát đối với cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên, đại biểu hội đồng nhân dân do cử tri, do dân bầu ra theo nhiệm kỳ. Nội dung giám sát là các lĩnh vực của đời sống xã hội liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức Hội và cán bộ, hội viên, phụ nữ, góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳng giới và nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội LHPN Việt Nam trong việc tham gia quản lý nhà nước.
Giám sát của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là giám sát chủ yếu bên ngoài bộ máy nhà nước. Việc giám sát chỉ dừng lại ở mức theo dõi, phát hiện, xem xét, các tổ chức, cá nhân thực hiện có đảm bảo quy trình, quy định của pháp luật hay không. Từ đó đánh giá, kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Vai trò giám sát của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Hoạt động giám sát của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam góp phần tạo điều kiện cho hội viên phụ nữ phát huy quyền làm chủ theo dõi, phát hiện sai sót trong thực thi chính sách, giúp cấp ủy, chính quyền các cấp kịp thời bổ sung, sửa đổi, điều chỉnh những vấn đề thực tiễn đặt ra đối với phụ nữ, trẻ em và bình đẳng giới đã được các cấp Hội kiến nghị lồng ghép vào các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, đề án, kế hoạch của nhà nước và địa phương.
Hội Liên hiệp phụ nữ là tổ chức đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước.