Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP TỈNH TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ Mục đích của chương này là cung cấp các vấn đề lý luận và pháp luật về hoạt động giám sát và hiệu quả hoạt động giám sát trong lĩnh vực kinh tế của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhằm cung cấp nền tảng lý luận cho việc đánh giá thực tiễn hoạt động giám sát và hiệu quả hoạt động giám sát trong lĩnh vực kinh tế của Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Yên ở chương 2, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị ở chương 3.1 Vị trí, vai trò và chức năng của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh 1.1 Khái quát chung về Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Theo tinh thần pháp luật Việt Nam, chính quyền địa phương nằm trong cơ cấu quyền lực thống nhất của Nhà nước, là một bộ phận cấu thành của bộ máy Nhà nước, thay mặt Nhà nước tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước trên địa bàn là tổ chức thực hiện Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước từ Trung ương tới địa phương. Chính quyền cấp tỉnh đóng vai trò là cầu nối giữa cơ quan Nhà nước ở Trung ương với địa phương, được thể hiện thông qua việc chính quyền cấp tỉnh là cơ quan trực tiếp tiếp nhận, phổ biến các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở Trung ương tới các cấp chính quyền cấp dưới ở địa phương mình nhằm thực hiện các quy định đó một cách đồng bộ và thống nhất, đúng pháp luật, mang lại hiệu quả cao. Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện của nhân dân ở địa phương, là bộ phận cấu thành thiết chế đại diện quyền lực Nhà nước; do cử tri địa phương bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín. Thông qua việc bầu cử, cử tri chuyển giao một phần quyền lực của mình cho Hội 12 Luan van đồng nhân dân để thay mặt họ quyết định các công việc liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương.
Hội đồng nhân dân cũng như các cơ quan nhà nước khác ở địa phương có nhiệm vụ chấp hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết của Quốc hội; Pháp lệnh, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Lệnh, Quyết định của Chủ tịch nước và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên; có quyền quyết định các chủ trương và biện pháp triển khai thực thi pháp luật cho phù hợp với điều kiện của địa phương. Việc chấp hành này của Hội đồng nhân dân được thể chế hóa thành các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân. Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Hội đồng nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính, theo đó, Hội đồng nhân dân được thành lập ở ba cấp: tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh, đơn vị hành chính tương đương (gọi chung là cấp huyện) và xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Như vậy, Hội đồng nhân dân là cơ quan nằm trong hệ thống tổ chức chính quyền địa phương, có vị trí hết sức quan trọng trong việc góp phần thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng và quản lý mọi mặt của đời sống nhân dân địa phương về kinh tế- xã hội, văn hóa, an ninh- quốc phòng.
là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống.2 Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Theo Hiến pháp năm 2013, đạo luật cơ bản nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã 13 Luan van quy định tại Điều 113 “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [11, 2013, tr. Đây cũng là nội dung được quy định tại điều 1, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003. Như vậy, từ những quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, thì Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nói riêng có hai tính chất pháp lý cơ bản: “là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương” và “là cơ quan đại diện của nhân dân ở địa phương”. Thứ nhất, Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương: Hội đồng nhân dân là cơ quan được thành lập bằng cuộc bầu cử do cử tri địa phương trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, bỏ phiếu kín; hình thức hoạt động của HĐND chủ yếu thông qua kỳ họp toàn thể, mọi quyết định của Hội đồng nhân dân được thông qua bằng việc biểu quyết theo nguyên tắc đa số.
Tính chất đại diện của HĐND về mặt hình thức được thể hiện rõ nét nhất ở vấn đề cơ cấu đại biểu trong HĐND. Mỗi HĐND có một số lượng đại biểu nhất định đại diện cho nữ giới, người dân tộc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân và các cơ quan nhà nước khác đóng tại địa phương. Điều này có nghĩa, HĐND không đại diện cho một đảng phái, một tổ chức nào mà là đại diện cho toàn thể nhân dân; thành phần trong HĐND thể hiện khối đại đoàn kết toàn dân sống trên địa phương. Điều 113, Hiến pháp năm 2013 xác định: HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm 14 Luan van chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên [11, 2013, tr.
Thứ hai, HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, thể hiện trên các mặt sau đây: - Được thành lập bởi đại biểu do nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. - Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh của UBND là cơ quan chấp hành của mình; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhânn dân cùng cấp; cũng như có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu ra. - Căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật ra Nghị quyết để triển khai các mặt công tác ở địa phương. - Giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương, đồng thời chịu sự giám sát, hướng dẫn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và hướng dẫn, kiểm tra của Chính phủ.
Như vậy, tính chất quyền lực của HĐND thể hiện trên nhiều phương diện, nhưng xét về mặt địa vị pháp lý thì không giống với Quốc hội. Quốc hội được Hiến pháp ghi nhận là cơ quan quyền lực cao nhất của cả nước về phạm vi, cấp độ cũng như thẩm quyền, đặc biệt là quyền ban hành Hiến pháp, pháp luật ở nước ta. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập Hiến, lập pháp; HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương nhưng chỉ có quyền ban hành Nghị quyết - là loại văn bản pháp quy dưới luật, phải phù hợp với văn bản pháp luật vì xuất phát từ tính đại diện của Hội đồng. Tóm lại, xét về mặt hình thức cũng như nội dung hoạt động, thiết chế HĐND ở nước ta thực sự là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở địa phương.
Quyền lực của HĐND được xác định trong Hiến pháp về bản chất cũng là quyền lực của nhân dân lao động. Vấn đề đặt ra là, bằng cách 15 Luan van nào để HĐND thực hiện được quyền lực của mình trên thực tiễn là mục đích hướng tới của công cuộc đổi mới và hoàn thiện bộ máy nhà nước nói chung và HĐND các cấp nói riêng.3 Chức năng của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh Theo Hiến pháp năm 2013, HĐND có hai chức năng, chức năng quyết định và chức năng giám sát được thể hiện tại khoản 2, điều 113: “Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân” [11, 2013, tr60]. Chức năng của HĐND được pháp luật quy định là xuất phát từ vị trí, vai trò của HĐND với tính chất là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên. HĐND thực hiện những nhiệm vụ và sử dụng những quyền hạn theo phân định thẩm quyền, phân quyền, phân cấp và ủy quyền, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương đồng thời phát huy quyền chủ động sáng tạo của địa phương.
Chức năng của HĐND là tổng hợp những phương diện, những hoạt động chủ yếu của HĐND nhằm thực hiện vai trò, nhiệm vụ của HĐND. Trong mỗi chức năng của HĐND đặt ra nhiều nhiệm vụ để thực hiện các chức năng đó. Chất lượng hoạt động của HĐND cấp tỉnh ở nước ta hiện nay cao hay thấp tùy thuộc rất lớn và chủ yếu vào thực hiện hai chức năng này trong thực tế. - Chức năng quyết định.
Đối với chức năng quyết định của HĐND, Điều 1, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 đã ghi nhận và khẳng định rằng: “Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, 16 Luan van củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước”.