Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu. Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, quá trình này cũng nảy sinh nhiều thách thức xã hội phức tạp như tình trạng thất nghiệp, ô nhiễm môi trường và sự gia tăng khoảng cách giàu nghèo. Theo kết quả Tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2021 theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2021–2025 được phê duyệt tại Quyết định số 07/2021/NĐ-CP, cả nước có 609.202 hộ nghèo (chiếm 2,23%) và 850.202 hộ cận nghèo (chiếm 3,11%). Nếu không tích cực thực hiện công tác giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội, mục tiêu xây dựng một xã hội công bằng, ấm no và tiến bộ sẽ khó đạt được.
Tại địa phương, Nuông Dăm là xã miền núi nằm ở phía Đông Nam huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Mặc dù có tiềm năng về diện tích đất đai và nguồn lực lao động, xã Nuông Dăm vẫn là địa bàn đặc biệt khó khăn nhất của huyện Kim Bôi. Nền kinh tế của xã duy trì tốc độ tăng trưởng chậm, chưa bền vững; tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm cơ cấu lớn; tư duy kinh tế của người dân còn nhiều hạn chế và các nghề truyền thống chưa được chú trọng phát triển. Dù đã nhận được sự đầu tư của Nhà nước về hạ tầng nông thôn và vốn sản xuất, kết quả giảm nghèo của xã qua các năm vẫn chưa thực sự vững chắc, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao, nguy cơ tái nghèo vẫn phát sinh hàng năm.
Khóa luận xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu thực trạng hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại xã Nuông Dăm, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại địa phương trong thời gian tới.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo bền vững.
- Đánh giá thực trạng hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại xã Nuông Dăm, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đẩy mạnh hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo bền vững tại xã Nuông Dăm, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động Công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững tại xã Nuông Dăm, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai trên địa bàn xã Nuông Dăm, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
- Phạm vi thời gian:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập và kế thừa các tài liệu, báo cáo thống kê trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2021.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua khảo sát thực địa từ tháng 04/2022 đến tháng 06/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm chuyên ngành, khung pháp lý và lý thuyết nền tảng của Công tác xã hội:
- Khái niệm nền tảng: Đề tài phân tích khái niệm nghèo theo quan điểm của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Ngân hàng Thế giới (WB) và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTBXH); phân định các dạng nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối và nghèo đa chiều. Đồng thời, đề tài làm rõ các khái niệm: hộ nghèo, người nghèo, giảm nghèo và giảm nghèo bền vững. Hoạt động Công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững được xác định là hoạt động trợ giúp chuyên nghiệp nhằm nâng cao năng lực, phục hồi và tăng cường chức năng xã hội của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng nghèo, kết nối họ với các nguồn lực xã hội để giải quyết vấn đề nghèo đói một cách bền vững.
- Cơ sở pháp lý: Tác giả dẫn chiếu các văn bản pháp quy điều chỉnh chuẩn nghèo và chính sách giảm nghèo qua các thời kỳ, bao gồm: Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016–2020; Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH; Nghị định số 07/2021/NĐ-CP quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021–2025; Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP; Nghị quyết số 80/NQ-CP; Quyết định số 1489/QĐ-TTg; Nghị quyết số 15-NQ/TW; Nghị quyết số 160/NQ-CP thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Ban Bí thư khóa XIII; cùng Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển nghề Công tác xã hội.
- Khung lý thuyết ứng dụng:
- Lý thuyết hệ thống (System theory - Bertalanfy, Toseland & Rivas 1998, Pincus & Minahan 1970): Xem xét người nghèo như một hệ thống cá nhân chịu sự tác động tương hỗ từ các tiểu hệ thống sinh lý, nhận thức, hành vi và các hệ thống bên ngoài như gia đình, cộng đồng xóm bản, các đoàn thể và hệ thống chính sách an sinh xã hội.
- Lý thuyết hệ thống sinh thái (Ecological systems theory - Germain & Gitterman 1980): Vận dụng mô hình "Con người trong môi trường" (Person In Environment - PIE) nhằm làm rõ mối tương tác giữa người dân tộc thiểu số với điều kiện tự nhiên miền núi và môi trường xã hội địa phương, định hướng nhân viên xã hội can thiệp thay đổi hoàn cảnh sống.
- Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow: Phân tích 5 bậc nhu cầu (nhu cầu cơ bản, an toàn, xã hội, tôn trọng, phát triển) để xác định thứ tự ưu tiên trợ giúp; trong đó việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản về vật chất, sinh hoạt là điều kiện tiên quyết để thúc đẩy nhu cầu vươn lên thoát nghèo.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội và báo cáo rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hàng năm của Đảng ủy, HĐND, UBND xã Nuông Dăm giai đoạn 2019–2021.
- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Sử dụng kỹ thuật điều tra bằng bảng hỏi in sẵn với dung lượng mẫu khảo sát là 100 mẫu, áp dụng đối với các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thường và cán bộ phụ trách công tác giảm nghèo trên địa bàn xã.
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Toàn bộ số liệu khảo sát được tổng hợp và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel. Đề tài kết hợp phương pháp thống kê mô tả (số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân) và phương pháp thống kê so sánh để đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, biến động tỷ lệ hộ nghèo qua các năm 2019, 2020 và 2021.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ giảm nghèo
Chương 1 tập trung phân tích khung lý luận về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều. So với chuẩn đơn chiều chỉ dựa trên thu nhập, chuẩn đa chiều giai đoạn 2016–2020 giám sát mức độ thiếu hụt 5 dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin) với 10 chỉ số đo lường. Sang giai đoạn 2022–2025 theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, chuẩn đa chiều mở rộng lên 6 dịch vụ xã hội cơ bản (bổ sung dịch vụ việc làm) với 12 chỉ số đo lường; nâng mức chuẩn thu nhập hộ nghèo khu vực nông thôn từ 700.000 đồng/người/tháng lên 1.500.000 đồng/người/tháng.
Chương này cũng xác định các nội dung can thiệp chủ yếu của Công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững gồm: hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức, thay đổi nếp nghĩ; hoạt động hỗ trợ các điều kiện phát triển kinh tế hộ gia đình (tín dụng chính sách, khuyến nông, chuyển giao công nghệ); hoạt động hỗ trợ tiếp cận dịch vụ xã hội (y tế, BHYT, giáo dục, đào tạo nghề, trợ giúp pháp lý); hoạt động an sinh xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế và đầu tư hạ tầng thiết yếu. Đồng thời, tác giả tổng kết các yếu tố ảnh hưởng khách quan (điều kiện tự nhiên, nhận thức của chính quyền, nguồn lực tài chính, chính sách vĩ mô) và chủ quan (thiếu vốn, thiếu kinh nghiệm sản xuất, đông con, ốm đau, tư tưởng trông chờ ỷ lại). Cuối chương là phần tổng quan các công trình nghiên cứu của Trần Quế Anh (tại Nam Định), Nguyễn Thị Huệ (tại Hà Giang), công trình của Nguyễn Thị Hằng và nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng hoạt động Công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững tại xã Nuông Dăm, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Chương 2 mô tả chi tiết đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của xã Nuông Dăm: tổng diện tích tự nhiên là 3.540,25 ha (đất nông nghiệp 506 ha, đất mặt nước 10 ha, đất lâm nghiệp 3.080 ha, đất khác 42 ha). Địa hình xã phức tạp với đồi, gò và thung lũng xen kẽ. Hệ thống giao thông gồm 46 km (Quốc lộ 449 dài 6 km, đường liên xã 13 km, đường liên thôn 27 km). Điện lưới quốc gia phủ kín 100% số hộ. Về dân số và lao động, dân số xã năm 2021 là 4.425 người; tỷ lệ lao động trong độ tuổi chiếm trên 60%. Cơ cấu lao động theo ngành có sự chênh lệch lớn: lao động nông, lâm nghiệp và chăn nuôi năm 2019 chiếm 63,75%, năm 2021 tăng lên 65,36%; công nghiệp xây dựng chiếm 14,67% (năm 2021); ngành dịch vụ giảm từ 21,88% (năm 2019) xuống 17,77% (năm 2021) do tác động của đại dịch Covid-19.
Về biến động số lượng hộ nghèo và cận nghèo tại xã Nuông Dăm giai đoạn 2019–2021, dữ liệu quản lý nhà nước của địa phương được tổng hợp như sau:
| STT |
Chỉ tiêu |
Đơn vị |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Năm 2021 |
Tốc độ phát triển bình quân (%) |
| 1 |
Tổng số hộ toàn xã |
Hộ |
975 |
992 |
989 |
100,71 |
| 2 |
Số hộ nghèo |
Hộ |
258 |
159 |
103 |
63,18 |
| 3 |
Tỷ lệ hộ nghèo |
% |
26,46 |
16,03 |
10,31 |
62,42 |
| 4 |
Số hộ cận nghèo |
Hộ |
304 |
233 |
233 |
87,54 |
| 5 |
Tỷ lệ hộ cận nghèo |
% |
31,18 |
23,49 |
22,55 |
85,04 |
Tỷ lệ hộ nghèo của xã giảm nhanh từ 26,46% năm 2019 xuống 10,31% năm 2021. Theo phân bố năm 2021 tại 5 thôn/xóm, xóm Ba Lầm có 38 hộ nghèo (13,3%), xóm Mý Thượng có 7 hộ nghèo (4,3%), xóm Suối Thượng có 7 hộ nghèo (5,7%), xóm Nuông có 15 hộ nghèo (9,6%) và xóm Dăm có 36 hộ nghèo (13,8%).
Phân tích dữ liệu điều tra thực địa trên nhóm mẫu (55 hộ nghèo, 45 hộ cận nghèo và 35 hộ thường) chỉ ra các đặc trưng nhân khẩu học và kinh tế:
- Dân tộc và giới tính: 100% hộ dân thuộc các nhóm khảo sát là dân tộc Mường. Ở nhóm hộ nghèo, 70,90% chủ hộ là nam giới và 27,27% là nữ giới.
- Trình độ học vấn: Trình độ của chủ hộ nghèo rất thấp; có 16,36% chưa từng đi học, 61,81% học hết tiểu học, 21,81% tốt nghiệp trung học cơ sở và không có chủ hộ nghèo nào học hết trung học phổ thông (trong khi tỷ lệ học hết trung học phổ thông ở hộ cận nghèo là 15,55% và hộ thường là 25,71%).
- Nhân khẩu và lao động: 49,09% hộ nghèo có từ 5–6 nhân khẩu và 36,36% có 3–4 nhân khẩu. Tuy nhiên, có tới 70,90% hộ nghèo chỉ có 1–2 lao động chính, tạo ra gánh nặng phụ thuộc lớn đối với người già, trẻ em và người đau ốm.
- Thu nhập và chi tiêu: 40/55 hộ nghèo sống dựa vào trồng trọt (lúa, ngô, sắn, mía tím) và chăn nuôi nhỏ lẻ; 13 hộ có nguồn thu từ làm thuê thời vụ hoặc công nhân; 2 hộ đánh bắt thủy sản. Có 18 hộ thu nhập dưới 500.000 đồng/tháng và 18 hộ từ 500.000 đến 1.000.000 đồng/tháng. Ngược lại, mức chi tiêu bình quân tập trung từ 1,5 đến 2 triệu đồng/tháng (chiếm 32,72% số hộ), dẫn đến tình trạng thu không đủ chi, buộc người nghèo phải vay nợ mua vật tư nông nghiệp hoặc nhờ cậy người thân.
- Đất đai và nhà ở: Dữ liệu so sánh cơ cấu tư liệu sản xuất và điều kiện ở giữa các nhóm hộ được thể hiện trong bảng sau:
| STT |
Nhóm hộ |
Đất nông nghiệp (sào/hộ) |
Đất lâm nghiệp (sào/hộ) |
Đất phi nông nghiệp (sào/hộ) |
Nhà kiên cố (%) |
Nhà bán kiên cố (%) |
Nhà tạm bợ (%) |
| 1 |
Hộ nghèo |
2,22 |
3,13 |
0,14 |
20,00 |
63,63 |
16,36 |
| 2 |
Hộ cận nghèo |
2,55 |
3,65 |
0,15 |
15,55 |
66,66 |
15,55 |
| 3 |
Hộ thường |
2,75 |
6,35 |
0,75 |
42,85 |
45,71 |
11,42 |
Trong khi đất nông nghiệp bình quân phân bổ tương đương nhau giữa các nhóm hộ, diện tích đất lâm nghiệp của hộ nghèo (3,13 sào/hộ) thấp hơn rất nhiều so với hộ thường (6,35 sào/hộ) do hộ nghèo thiếu vốn để đầu tư nhận giao khoán rừng. Về chất lượng nhà ở, hộ nghèo vẫn còn 16,36% sống trong nhà tạm bợ và 63,63% nhà bán kiên cố.
Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh hoạt động Công tác xã hội trong giảm nghèo bền vững tại xã Nuông Dăm, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Trên cơ sở đánh giá thành tựu và chỉ rõ các rào cản (nguy cơ tái nghèo, thiếu vốn, trình độ hạn chế của cán bộ làm công tác giảm nghèo), tác giả xác lập các nhóm giải pháp:
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương đối với công tác giảm nghèo bền vững, gắn trách nhiệm của các ban ngành đoàn thể xã.
- Tập trung triển khai các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội tổng thể trên địa bàn xã Nuông Dăm, hoàn thiện hạ tầng nông thôn.
- Tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất tăng thu nhập: mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách từ Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), hướng dẫn phương thức sản xuất, khuyến nông, khuyến lâm và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật phù hợp với tập quán địa phương.
- Thực hiện các chính sách hỗ trợ người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều: cấp thẻ BHYT, hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh; miễn giảm học phí cho học sinh nghèo; hỗ trợ xóa nhà tạm bợ, nâng cấp công trình nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh; phổ cập dịch vụ viễn thông và phương tiện tiếp cận thông tin.
- Nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ Công tác xã hội cho đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp xã và cấp xóm bản.
- Triển khai các giải pháp an sinh xã hội bổ trợ, giải quyết kịp thời các khoản trợ cấp cho đối tượng bảo trợ xã hội và phòng ngừa rủi ro thiên tai, dịch bệnh.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính của khóa luận:
- Cung cấp chuỗi số liệu thực tế về tiến trình giảm nghèo tại xã Nuông Dăm giai đoạn 2019–2021: tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 26,46% (258 hộ) xuống 10,31% (103 hộ); tỷ lệ hộ cận nghèo giảm từ 31,18% xuống 22,55%.
- Làm rõ các rào cản vi mô của 103 hộ nghèo (100% là đồng bào dân tộc Mường): trình độ học vấn thấp (78,17% chủ hộ chưa học xong tiểu học hoặc chưa từng đi học); 70,90% hộ nghèo rơi vào thế bất lợi kép khi chỉ có 1–2 lao động chính phải nuôi dưỡng gia đình đông nhân khẩu (49,09% hộ có 5–6 người); tình trạng mất cân đối thu - chi (thu nhập chủ yếu dưới 1 triệu đồng/tháng nhưng chi phí sinh hoạt thiết yếu dao động từ 1,5 đến 2 triệu đồng/tháng).
- Đo lường sự chênh lệch tư liệu sản xuất: chỉ ra diện tích đất lâm nghiệp bình quân của hộ nghèo chỉ bằng khoảng một nửa so với hộ thường (3,13 sào/hộ so với 6,35 sào/hộ), làm hạn chế tiềm năng phát triển kinh tế đồi rừng.
Đóng góp và đề xuất của tác giả:
- Về mặt lý luận, khóa luận tích hợp liên ngành giữa khoa học Công tác xã hội và quản lý kinh tế nông thôn; vận dụng thành công lý thuyết hệ thống, lý thuyết sinh thái (PIE) và lý thuyết nhu cầu Maslow để lý giải hiện tượng nghèo đa chiều tại một xã vùng cao người Mường.
- Về mặt thực tiễn, tác giả xây dựng khuyến nghị chính sách cụ thể gửi tới 5 nhóm chủ thể: Đảng và Nhà nước; UBND tỉnh Hòa Bình; UBND huyện Kim Bôi; UBND xã và Ban chỉ đạo giảm nghèo xã Nuông Dăm; cùng bản thân các hộ nghèo (nhằm xóa bỏ tâm lý tự ti, ỷ lại và chủ động tiếp cận nguồn lực vươn lên).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài:
- Do giới hạn về thời gian, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học của sinh viên và nguồn tài liệu tham khảo tại chỗ, nghiên cứu chỉ khảo sát thực địa trên cỡ mẫu 100 bảng hỏi tại 5 xóm thuộc một địa bàn hành chính cấp xã miền núi (Nuông Dăm).
- Dữ liệu khảo sát phản ánh thực trạng chủ yếu của cộng đồng dân tộc Mường, chưa mở rộng đối sánh với các cộng đồng dân tộc thiểu số khác trong huyện Kim Bôi.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi đánh giá mức độ thiếu hụt các chỉ số dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022–2025 trên toàn bộ các xã vùng sâu, vùng xa của huyện Kim Bôi.
- Nghiên cứu chuyên sâu về quy trình quản lý ca (case management) và vai trò kết nối nguồn lực chuyên nghiệp của nhân viên Công tác xã hội trong các mô hình phát triển sinh kế lâm nghiệp bền vững tại địa phương.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Công tác xã hội, Quản trị kinh doanh, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm tài liệu tham khảo phương pháp luận khảo sát thực địa và phân tích nghèo đa chiều.
- Cán bộ làm công tác Lao động – Thương binh và Xã hội, Ban chỉ đạo giảm nghèo xã Nuông Dăm và Phòng LĐTBXH huyện Kim Bôi trong việc xây dựng kế hoạch phân bổ chỉ tiêu giảm nghèo hàng năm và thiết kế các gói can thiệp trợ giúp xã hội.
- Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 với hệ thống bảng số liệu thống kê chi tiết về cơ cấu dân số, lao động, đất đai, nhà ở và tương quan thu - chi của hộ nghèo, cung cấp cái nhìn thực tế về điểm nghẽn an sinh xã hội ở vùng dân tộc thiểu số.
Câu hỏi thường gặp
-
Tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo tại xã Nuông Dăm biến động như thế nào trong giai đoạn 2019–2021?
Giai đoạn 2019–2021, số lượng và tỷ lệ hộ nghèo tại xã Nuông Dăm giảm mạnh: năm 2019 toàn xã có 258 hộ nghèo (chiếm 26,46%), năm 2020 giảm xuống 159 hộ (16,03%) và năm 2021 còn 103 hộ (10,31%). Tỷ lệ hộ cận nghèo cũng giảm từ 31,18% (304 hộ năm 2019) xuống còn 22,55% (233 hộ năm 2021). Tốc độ phát triển bình quân của tỷ lệ hộ nghèo giảm với tỷ lệ 62,42%.
-
Cơ cấu dân tộc và trình độ học vấn của chủ hộ nghèo khảo sát tại địa phương có đặc điểm gì?
100% các hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ thường được khảo sát tại xã Nuông Dăm đều là người dân tộc Mường. Về trình độ học vấn, nhóm chủ hộ nghèo có trình độ rất thấp: 16,36% chưa từng đi học, 61,81% chỉ học hết cấp tiểu học, 21,81% tốt nghiệp trung học cơ sở và 0% có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.
-
Thực trạng quan hệ giữa thu nhập và chi tiêu của các hộ nghèo tại xã Nuông Dăm diễn ra ra sao?
Các hộ nghèo gặp phải tình trạng "thu không đủ chi". Nguồn thu nhập của 40/55 hộ nghèo phụ thuộc vào nông nghiệp nhỏ lẻ với mức thu phổ biến dưới 1.000.000 đồng/hộ/tháng (có 18 hộ dưới 500.000 đồng và 18 hộ từ 500.000 đến 1.000.000 đồng). Trong khi đó, nhu cầu chi tiêu sinh hoạt và đầu tư sản xuất tối thiểu của 32,72% hộ nghèo nằm trong mức từ 1,5 đến 2 triệu đồng/tháng. Để bù đắp, người nghèo chủ yếu chọn giải pháp mua chịu vật tư nông nghiệp tại các đại lý hoặc vay mượn người thân.
-
Tư liệu sản xuất đất đai giữa hộ nghèo và hộ thường có sự chênh lệch như thế nào?
Theo kết quả điều tra, diện tích đất nông nghiệp giữa các nhóm hộ tương đối đồng đều do Nhà nước chia theo nhân khẩu (hộ nghèo là 2,22 sào/hộ, hộ thường là 2,75 sào/hộ). Tuy nhiên, diện tích đất sản xuất lâm nghiệp có sự phân hóa rõ rệt: hộ nghèo chỉ có bình quân 3,13 sào/hộ, trong khi hộ thường đạt tới 6,35 sào/hộ do có đủ tiềm lực tài chính để nhận khoán rừng từ Nhà nước.
-
Những lý thuyết chuyên ngành nào được khóa luận vận dụng để tiếp cận vấn đề giảm nghèo?
Đề tài vận dụng 3 khung lý thuyết chính của ngành Công tác xã hội: Lý thuyết hệ thống (System theory) để xem xét sự tương tác giữa hộ nghèo với các nguồn lực cộng đồng; Lý thuyết hệ thống sinh thái (Ecological systems theory với mô hình PIE) để đánh giá sự thích nghi của con người trong môi trường tự nhiên, xã hội vùng cao; và Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow nhằm định hướng thứ tự can thiệp từ nhu cầu cơ bản đến các nhu cầu phát triển năng lực cao hơn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Hoa đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết chuẩn nghèo đa chiều và hoạt động Công tác xã hội, đồng thời phản ánh bức tranh thực trạng giảm nghèo tại xã Nuông Dăm giai đoạn 2019–2021. Kết quả nghiên cứu thực địa chỉ rõ các rào cản căn bản của đồng bào dân tộc Mường về trình độ học vấn, tỷ lệ phụ thuộc lao động, sự thiếu hụt đất lâm nghiệp và mức chi tiêu vượt thu nhập. Các giải pháp và khuyến nghị được đề xuất mang tính đồng bộ từ chỉ đạo, phát triển kinh tế, hỗ trợ dịch vụ xã hội cơ bản đến nâng cao năng lực cán bộ cơ sở, cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ công tác an sinh xã hội tại địa bàn nghiên cứu.