phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, nội dung của luận văn gồm 04 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về việc làm. Chƣơng 2: Phƣơng pháp luận và thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng giải quyết việc làm ở huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Chƣơng 4: Một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết việc làm cho ngƣời lao động ở huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Việc làm là một trong những vấn đề có tính toàn cầu, là mối quan tâm lớn của các quốc gia nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Ở nƣớc ta, từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, liên quan đến chủ đề luận văn đã có nhiều công trình khoa học, nhiều nhà nghiên cứu có bài viết xoay quanh vấn đề này, tiêu biểu nhƣ: - Giải quyết việc làm cho lao động nữ ở tỉnh Quảng Nam, Luận văn Thạc sĩ kinh tế của tác giả Lƣu Bích Ngọc, Trƣờng Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng (2011); Luận văn đã khẳng định việc làm là hoạt động quan trọng nhất của con ngƣời nhằm tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần cho xã hội.
Vấn đề giải quyết việc làm cho ngƣời lao động nói chung và lao động nữ nói riêng vẫn là vấn đề cần quan tâm. Vì vậy, cần phải phát triển, tăng trƣởng kinh tế trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng thế mạnh của các nguồn lực, tiềm năng thế mạnh của địa phƣơng, động viên hƣớng dẫn và tạo điều kiện cho nhân dân phát triển sản xuất, tạo ra của cải vật chất ngày càng dồi dào và thu nhập ngày càng cao. Trên cơ sở xác định thực trạng, tìm ra nguyên nhân, từ đó đề ra biện pháp hữu hiệu, có tính khả thi để giải quyết việc làm cho ngƣời lao động trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. - Chính sách việc làm ở Việt Nam:Thực trạng và định hướng hoàn thiện, của PGS.TS Trần Việt Tiến, Tạp chí Kinh tế và phát triển.
Chính sách việc làm là một trong chính sách cơ bản của mỗi quốc gia. Thông qua tạo thêm việc làm và đảm bảo việc làm cho ngƣời lao động, chính 5 sách việc làm có mục tiêu xã hội là nâng cao phúc lợi cho ngƣời dân, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo cho ngƣời dân hòa nhập xã hội, giảm dần sự tách biệt xã hội. Chính sách việc làm ở nƣớc ta thời gian qua đa từng bƣớc thực hiện đƣợc mục tiêu đó, tuy vậy, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần khắc phục. Bài viết này góp phần làm rõ thực trạng chính sách việc làm ở nƣớc ta hiện nay, từ đó đƣa ra định hƣớng hoàn thiện chính sách việc làm tới năm 2020.
- Vấn đề phân bổ và sử dụng nguồn lao động theo vùng và hướng giải quyết việc làm ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, của PGS. Nguyễn Quốc Tế, Nhà xuất bản Thống kê, 2003. Tác giả đã hệ thống hóa các lý luận cơ bản về lao động, việc làm – nguồn lực cơ bản cho sự phát triển xã hội, đồng thời phân tích thực trạng phân bổ, sử dụng hợp lý nguồn lao động theo vùng và vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam. Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận cơ bản và đánh giá, phân tích thực trạng, tác giả đã xây dựng một số biện pháp nhằm phân bổ, sử dụng hợp lý nguồn lao động theo vùng và giải quyết việc làm ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010, trong đó, tác giả đã xây dựng hệ thống các giải pháp và phải kể đến các giải pháp nhƣ: + Phát trển cơ sở hạ tầng; + Phát triển thủy lợi; + Đẩy mạnh điện khí hóa nông nghiệp, nông thôn; + Đa dạng hóa ngành nghề; + Các giải pháp tăng cƣờng chất lƣợng nguồn nhân lực nhƣ: phát triển hệ thống đào tạo nguồn nhân lực; xã hội hóa giáo dục đào tạo; phát triển các trung tâm đào tạo nghề.
+ Phát triển thị trƣờng sức lao động. Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu nhƣ: - Ảnh hưởng của nền kinh tế tri thức với vấn đề giải quyết việc làm ở Việt 6 Nam của GS.TS Đỗ Thế Tùng (Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 6-2002); - Thị trường lao động ở Việt Nam, định hướng và phát triển của thạc sĩ Nguyễn Thị Lan Hƣơng (Nxb Lao động - xã hội, 2002); - Lao động việc làm những bước tiến quan trọng của Nguyễn Thị Hằng (Tạp chí Cộng sản, số 23 - 8/2003); - Một số vấn đề lao động, việc làm và đời sống người lao động ở Việt Nam hiện nay do thạc sĩ Đinh Đặng Định chủ biên (Nxb Lao động, Hà Nội, 2004); - Vấn đề lao động và việc làm ở Việt Nam từ đổi mới đến nay của GS.TS Phạm Đức Thành, PGS.TS Phạm Quý Thọ, Th. Thang Mạnh Hợp (Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 298 - 12/2003); Với những phân tích trên về tình hình nghiên cứu việc làm của ngƣời lao động của tổ chức, cá nhân quốc tế cũng nhƣ ở Việt Nam thì dƣới góc độ khoa học kinh tế chính trị đến nay chƣa có công trình nào viết về vấn đề này dƣới dạng luận văn khoa học nhằm đánh giá tổng quan tình hình việc làm trên địa bàn huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp giải quyết việc làm. Nhƣ vậy, việc nghiên cứu đề tài “Giải quyết việc làm ở huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình” dƣới góc độ khoa học kinh tế chính trị từ việc làm để xây dựng hệ thống các giải pháp giải quyết việc làm cho ngƣời lao động là lần đầu tiên đƣợc nghiên cứu tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Một số khái niệm cơ bản 1. Lao động và lực lượng lao động xã hội - Lao động là hoạt động có mục đích của con ngƣời nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình. Trong quá trình sản xuất, con ngƣời sử dụng công cụ lao động tác động đối tƣợng lao động, bắt buộc tự nhiên phụ vụ con ngƣời. 7 - Lao động là điều kiện chủ yếu để tồn tại của xã hội loài ngƣời, là cơ sở của tiến bộ về kinh tế, văn hóa và xã hội.
Nó là nhân tố quyết định của bất kỳ quá trình sản xuất nào. - Lực lƣợng lao động xã hội là một bộ phận quan trọng nhất của nguồn lao động, bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động đang tham gia lao động hoặc chƣa tham gia lao động nhƣng có nhu cầu tham gia lao động. Theo khái niệm đó, lực lƣợng lao động xã hội là một thuật ngữ cũng giống nhƣ thuật ngữ nguồn lao động gắn với độ tuổi lao động mà Bộ luật Lao động quy định. Do đó, xác định quy mô lực lƣợng lao động cần xuất phát từ Bộ luật Lao động.
Nhƣ vậy, lực lƣợng lao động gồm có hai bộ phận: Bộ phận đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và đây là bộ phận chính yếu nhất và một bộ phận thứ yếu khác gồm những ngƣời chƣa làm việc nhƣng có nhu cầu làm việc. Lực lƣợng lao động xã hội phản ánh khả năng thu hút lao động trong giai đoạn hiện tại, thƣờng đƣợc dùng để đánh giá mức độ tham gia lao động, trong đó có chỉ tiêu về xác định tỷ lệ thất nghiệp. Trong thực tế Việt Nam, lực lƣợng lao động xã hội đƣợc hiểu không chỉ những ngƣời trong độ tuổi mà cả những ngƣời trên độ tuổi. Chẳng hạn, trong các Điều tra Lao động – Việc làm hàng năm do Bộ Lao động TBXH tiến hành khái niệm lực lƣợng lao động xã hội đƣợc sử dụng nhƣ sau: “Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc đang tìm kiếm việc làm.
Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (còn gọi là dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động) bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi; nữ từ đủ 15 tuổi đến hết 55 tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm (thất nghiệp) nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc” (Trần Xuân Cầu, 2012, Tr.51) 8 Xuất phát từ đặc trƣng của Việt Nam, trong đó nông nghiệp vẫn đang là ngành cực kỳ quan trọng, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, lúc nông nhàn, lúc bận rộn gieo trồng thu hoạch, vì thế, những lúc bận rộn rất cần nguồn nhân lực bổ sung. Hơn nữa, đối với nông dân không có chế độ bảo hiểm xã hội, không nghỉ hƣu, vẫn làm việc sau 60 tuổi để đảm bảo cuộc sống. Ngoài lực lƣợng lao động là chủ yếu, trong nguồn lao động còn có bộ phận chƣa có nhu cầu tham gia lao động (học sinh, sinh viên trong tuổi lao động đang học tập, bộ đội, nội trợ và cả những ngƣời có đủ nguồn sống không cần tham gia lao động). Giải quyết việc làm, thiếu việc làm và tình trạng thất nghiệp - Việc làm: Việc làm là phạm trù chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tƣ liệu sản xuất, công nghệ …) để sử dụng sức lao động đó (Trần Xuân Cầu, 2012, Tr.
Trạng thái phù hợp đƣợc thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chi phí ban đầu (C) nhƣ nhà xƣởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… và chi phí về sức lao động (V). Quan hệ tỷ lệ biểu hiện sự kết hợp giữa C và V phải phù hợp với trình độ công nghệ của sản xuất. Khi trình độ kỹ thuật công nghệ thay đổi thì sự kết hợp đó cũng thay đổi theo hƣớng công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều sức lao động. Chẳng hạn, trong điều kiện kỹ thuật thủ công một đơn vị chi phí ban đầu về tƣ liệu sản xuất có thể kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động.
Còn trong điều kiện tự động hoá, sản xuất theo dây chuyền hiện đại thì chi phí về vốn, thiết bị, công nghệ rất cao nhƣng chỉ đòi hỏi sức lao động với tỷ lệ rất thấp. Do đó, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phƣơng án phù hợp để có thể tạo việc làm cho ngƣời lao động.