phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu gồm có 03 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về việc làm và giải quyết việc làm; Chƣơng 2. Thực việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên; Chƣơng 3. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên.
9 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1. Một số khái niệm cơ bản về việc làm, giải quyết việc làm 1. Khái niệm việc làm Việc làm là vấn đề đƣợc nghiên cứu và đề cập dƣới nhiều góc độ khác nhau. Cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng đƣợc nhìn nhận một cách khao học, đầy đủ và đúng đắn hơn.
- Dƣới góc độ kinh tế - xã hội: Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trong nhất của con ngƣời. Hoạt động kiếm sống của con ngƣời đƣợc gọi chung là việc làm. Việc làm trƣớc hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định. Họ có thể tham gia công việc nào đó để đƣợc trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm nhƣ dùng các tƣ liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự làm những công việc cho hộ gia đình mình.
Ngoài vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng của xã hội. Sở dĩ có sự phát sinh này là do con ngƣời không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động sản xuất của xã hội. Hơn nữa, việc làm và thu nhập không phải là vấn đề mà lúc nào mỗi cá nhân ngƣời lao động cũng quyết định đƣợc. Sự phát triển quá nhanh của dân số, mức độ tập trung tƣ liệu sản xuất ngày càng cao vào tay một số cá nhân dẫn đến tình trạng xã hội ngày càng có nhiều ngƣời không có khả năng tự tạo việc làm.
Trong điều kiện đó, mỗi cá nhân phải huy động mọi khả năng của bản thân để tự tìm việc làm cho mình, phải cạnh tranh để tìm việc làm. 10 Luan van Tóm lại, xét về phƣơng diện kinh tế - xã hội, có thể hiểu việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho ngƣời lao động đƣợc xã hội thừa nhận. - Dƣới góc độ pháp lí + Theo quan niệm quốc tế: ILO (International Labour Organization) đƣa ra khái niệm: “Người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật” [16]. Khái niệm này còn đƣợc đƣa ra tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động (ILO.1993) và đƣợc áp dụng ở nhiều nƣớc.
Còn ngƣời thất nghiệp là những ngƣời không có việc làm nhƣng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ đƣợc trả lại làm việc. ILO còn có nhiều công ƣớc và khuyến nghị liên quan đến vấn đề việc làm, trong đó có một số công ƣớc quan trọng nhƣ công ƣớc số 47 (1935), Công ƣớc số 88 (1948), Công ƣớc 122 (1964)… + Theo quan niệm của Việt Nam: Tại Khoản 1, Điều 35 Hiến Pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc” [17]. Từ quan niệm này đã mở ra bƣớc chuyển căn bản trong nhận thức về việc làm. Trên cơ sở này, Điều 9 Bộ luật Lao động Việt Nam đã quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” [20].
Nhƣ vậy, dƣới góc độ pháp lý, việc làm đƣợc cấu thành bởi 3 yếu tố: Là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tƣ liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thƣờng xuyên và tính nghề nghiệp. Vì vậy ngƣời 11 Luan van có việc làm thông thƣờng phải là những ngƣời thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tƣơng đối ổn định. Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khả năng tạo ra thu nhập.
Hoạt động hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhƣng trái pháp luật, không đƣợc pháp luật thừa nhận thì không đƣợc coi là việc làm. Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nƣớc mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động đƣợc coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trƣng tính pháp lí của việc làm. Vai trò và ý nghĩa của việc làm - Trên bình diện kinh tế - xã hội.
Về mặt kinh tế: việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất. Hiệu quả của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất. Kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngƣợc lại, nếu không giải quyết tốt vấn đề việc làm thì đó sẽ là những yếu tố kìm hãm sự tăng trƣởng của kinh tế. Về mặt xã hội: bảo đảm việc làm có hiệu quả to lớn trong vấn đề phòng, chống, hạn chế các tiêu cực xã hội, giữ vững đƣợc kỉ cƣơng, nề nếp xã hội.
Thất nghiệp và việc làm không đầy đủ, thu nhập thấp là tiền đề của sự đói nghèo, thậm chí là điểm xuất phát của tệ nạn xã hội. Các tệ nạn của xã hội nhƣ tội phạm, ma túy, mại dâm, có nguyên nhân cốt lõi là việc làm và thất nghiệp. - Trên bình diện chính trị - pháp lí. Hậu quả của việc thất nghiệp, thiếu việc làm không những ảnh hƣởng tới kinh tế - xã hội mà còn đe dọa lớn đối với an ninh và sự ổn định của mỗi quốc gia.
Chính vì vậy, ở bất kì quốc gia nào, việc làm đã, đang và luôn là 12 Luan van vấn đề gay cấn, nhạy cảm đối với từng cá nhân, từng gia đình, đồng thời cũng là vấn đề xã hội lâu dài, vừa cấp bách nếu không đƣợc giải quyết tốt có thể trở thành vấn đề chính trị. Còn trên bình diện pháp lý, việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản của con ngƣời, đóng vai trò là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệ lao động. Khi việc làm không còn tồn tại, quan hệ lao động cũng theo đó mà triệt tiêu, không còn nội dung, không còn chủ thể. - Trên bình diện quốc gia - quốc tế.
Đối với mỗi quốc gia, chính sách việc làm và giải quyết việc làm là bộ phận có vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các chính sách xã hội nói riêng và trong tổng thể chính sách phát triển kinh tế xã hội nói chung. Chính sách xã hội của nhà nƣớc ở hầu hết các quốc gia đều tập trung vào một số các lĩnh vực nhƣ thị trƣờng lao động, bảo đảm việc làm, bảo hiểm xã hội… Chính sách việc làm là chính sách cơ bản nhất của quốc gia, góp phần bảo đảm an toàn, ổn định và phát triển xã hội. Tuy nhiên trong thời đại ngày nay, vấn đề lao động việc làm không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia mà nó còn có tính toàn cầu hóa, tính quốc tế sâu sắc. Vấn đề hợp tác, đƣa lao động đi làm việc ở nƣớc ngoài cũng đƣợc đặt ra đồng thời với việc chấp nhận lao động ở nƣớc khác đến làm việc tại nƣớc mình.
Điều này giúp cân bằng lao động. Lao động từ nƣớc kém phát triển sang làm việc ở nƣớc phát triển, từ nƣớc dƣ thừa lao động sang nƣớc thiếu lao động. Trong thị trƣờng đó, cạnh tranh không chỉ còn là vấn đề giữa những ngƣời lao động mà còn trở thành vấn đề giữa các quốc gia. Từ đó vấn đề lao động việc làm còn đƣợc điều chỉnh hoặc chịu sự ảnh hƣởng chi phối của các công ƣớc quốc tế về lao động.
Các nƣớc dù muốn hay không cũng phải áp dụng hoặc tiếp cận với những “luật chơi chung” và “sân chơi chung” càng ngày càng khó khăn và quy mô hơn. 13 Luan van Vấn đề việc làm - giải quyết việc làm là vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia trên thế giới, bao gồm cả những nƣớc có nền kinh tế phát triển. Và để giải quyết vấn đề này, nhà nƣớc có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Có những biện pháp nhằm trực tiếp giải quyết việc làm cho ngƣời lao động nhƣng cũng có biện pháp chỉ mang tính chất hỗ trợ.
Các biện pháp mang tính hỗ trợ cho giải quyết việc làm nhƣ khuyến khích đầu tƣ, lập các chƣơng trình việc làm, phát triển hệ thống dịch vụ việc làm, dạy nghề gắn với việc làm, thành lập các quỹ giải quyết việc làm, cho vay từ các quỹ chuyên dụng…Các biện pháp trực tiếp giải quyết việc làm nhƣ đƣa ngƣời lao động Việt Nam đi làm việc ở nƣớc ngoài theo hợp đồng, khuyến khích tuyển dụng lao động và tự do lao động. Tất cả nhằm hƣớng tới mục đích làm giảm tình trạng thất nghiệp, mất cân bằng lao động… 1. Khái niệm giải quyết việc làm Giải quyết việc làm cho ngƣời lao động là phát huy, sử dụng tiềm năng sẵn có của từng đơn vị, từng địa phƣơng và ngƣời lao động nhằm tạo ra những công việc hợp lý, ổn định cho ngƣời lao động; những công việc đó phải đem lại thu nhập, đảm bảo thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần cho bản thân ngƣời lao động và gia đình họ; phù hợp với đặc điểm tâm lý và chuyên môn nghề nghiệp của bản thân ngƣời lao động. Chỉ khi nào trên thị trƣờng ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động gặp gỡ và tiến hành trao đổi thì khi đó việc làm đƣợc hình thành.
Giải quyết việc làm phải đƣợc xem ở cả phía ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và vai trò của nhà nƣớc. Vì vậy, “Giải quyết việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế, xã hội từ vi mô cho đến vĩ mô có tác động đến người lao động có thể có việc làm” [16]. Ý nghĩa của giải quyết việc làm - Ý nghĩa về mặt kinh tế.