Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn huyện ba bể tỉnh bắc kạn

Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên nông thôn tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, phân tích chính sách và giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

115
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên nông thôn

Phần này trình bày cơ sở lý luậnthực tiễn về quản lý nhà nước trong việc giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn. Tác giả đã hệ thống hóa các khái niệm cơ bản về thanh niên, thanh niên nông thôn, và vai trò của họ trong phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, luận văn cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về việc làm, bao gồm cả yếu tố khách quan và chủ quan. Phần này cũng đề cập đến kinh nghiệm từ các địa phương khác như Huyện Sơn Dương, Huyện Yên Sơn, và Huyện Điện Biên, từ đó rút ra bài học cho Huyện Ba Bể, Bắc Kạn.

1.1. Khái niệm thanh niên và thanh niên nông thôn

Tác giả định nghĩa thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 đến 30 tuổi, trong khi thanh niên nông thôn là những người trong độ tuổi này cư trú tại khu vực nông thôn. Luận văn nhấn mạnh vai trò của thanh niên nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp hóa. Tuy nhiên, trình độ văn hóa và chuyên môn của họ vẫn còn thấp so với thanh niên thành thị, dẫn đến tình trạng thiếu việc làm và xu hướng di cư ra thành phố.

1.2. Vai trò của thanh niên trong phát triển kinh tế xã hội

Luận văn khẳng định thanh niên là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Đặc biệt, thanh niên nông thôn đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển bền vững tại các khu vực nông thôn. Tác giả cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua giáo dục nghề nghiệpđào tạo lao động, giúp họ có cơ hội việc làm ổn định và đóng góp tích cực vào sự phát triển của địa phương.

II. Thực trạng quản lý nhà nước về việc làm của thanh niên nông thôn tại Huyện Ba Bể Bắc Kạn

Phần này phân tích thực trạng quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên nông thôn tại Huyện Ba Bể, Bắc Kạn. Tác giả đã khảo sát tình hình kinh tế - xã hội, đánh giá năng lực của thanh niên, và phân tích các chính sách hiện hành. Kết quả cho thấy, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc ban hành và thực hiện các chính sách việc làm, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế như thiếu sự phối hợp giữa các ban ngành, chính sách chưa đồng bộ, và hiệu quả thực thi chưa cao.

2.1. Tình hình kinh tế xã hội và lao động tại Huyện Ba Bể

Luận văn cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình kinh tế - xã hộilao động tại Huyện Ba Bể. Địa phương này có tỷ lệ thanh niên cao nhưng lại gặp nhiều khó khăn trong việc tạo việc làm ổn định. Tác giả chỉ ra rằng, mặc dù có nhiều tiềm năng về phát triển kinh tế, nhưng việc khai thác các lợi thế này chưa hiệu quả, dẫn đến tình trạng thanh niên thiếu việc làm và có xu hướng di cư ra khỏi địa bàn.

2.2. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về việc làm

Tác giả đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về việc làm tại Huyện Ba Bể, chỉ ra những điểm mạnh và hạn chế. Một số chính sách như xuất khẩu lao độngtạo việc làm tại chỗ đã được triển khai nhưng chưa đạt hiệu quả cao. Nguyên nhân chính là do thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan, chính sách chưa đồng bộ, và nhận thức của cán bộ về tầm quan trọng của giáo dục nghề nghiệp còn hạn chế.

III. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên nông thôn

Phần này đề xuất các phương hướnggiải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên nông thôn tại Huyện Ba Bể, Bắc Kạn. Tác giả nhấn mạnh sự cần thiết của việc hoàn thiện cơ chế chính sách, tăng cường thực thi chính sách, và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua giáo dục nghề nghiệpđào tạo lao động. Các giải pháp được đề xuất bao gồm việc tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, cải thiện công tác tuyên truyền, và thúc đẩy các mô hình kinh tế phù hợp với thanh niên nông thôn.

3.1. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách

Tác giả đề xuất việc hoàn thiện cơ chế chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên nông thôn tiếp cận việc làm. Các giải pháp bao gồm việc ban hành các chính sách hỗ trợ cụ thể, tăng cường đầu tư vào giáo dục nghề nghiệp, và thúc đẩy các chương trình xuất khẩu lao động. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả của các chính sách.

3.2. Nhóm giải pháp về thực thi chính sách

Luận văn nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng cường thực thi chính sách để đảm bảo các chính sách về việc làm được triển khai hiệu quả. Các giải pháp bao gồm việc cải thiện công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ và người dân, và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để đảm bảo việc thực hiện chính sách đúng quy định.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn huyện ba bể tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc về việc làm cho thanh niên nông thôn. Chương 2: Thực trạngquản lý nhà nƣớc về việc làm của thanh niên nông thôn trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Chương 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc về việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN 1.

Cơ sở lý luận cơ bản về thanh niên 1. Khái niệm thanh niên, thanh niên nông thôn Theo Từ điển Tiếng Việt, NXB. Văn hóa Thông tin, năm 1999: “Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành”. Khái niệm này xác định thanh niên dƣới hai góc độ: sinh học (độ tuổi) và tâm lý, giáo dục (sự trƣởng thành), không phân biệt thành phần dân tộc, tôn giáo, vùng miền.

Về mặt sinh học, thanh niên đƣợc coi là một giai đoạn phát triển trong cuộc đời con ngƣời. Các nhà tâm lý học lại thƣờng nhìn nhận thanh niên gắn với các đặc điểm tâm lý lứa tuổi và coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt với các lứa tuổi khác. Ở giai đoạn này, sự phát triển về thể chất đạt đến đỉnh cao, tuy nhiên, các yếu tố tâm lý mới đƣợc định hình và ổn định một cách tƣơng đối. Dƣới góc độ xã hội học, thanh niên lại đƣợc nhìn nhận là một giai đoạn xã hội hóa - thời kỳ kết thúc của tuổi thơ phụ thuộc chuyển sang xác lập vai trò cá nhân qua các hoạt động độc lập với tƣ cách đầy đủ của một công dân, là một trong các chủ thể của các quan hệ xã hội.

Dƣới góc độ chính trị, thanh niên đƣợc hiểu là lực lƣợng hậu bị của các đảng phái chính trị. Tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi công tác đoàn kết, tập hợp, giáo dục thanh niên đi theo lý tƣởng cộng sản chủ nghĩa là công tác có ý nghĩa rất quan trọng. Đồng thời, xác định việc xây dựng Đoàn TNCS Hồ Chí Minh - tổ chức đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của thanh niên, là đội dự bị tin cậy của Đảng, là một trong các nhân tố đảm bảo sự phát triển của Đảng và cách mạng Việt Nam. Theo Luật Thanh niên năm 2005, quy định: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”.

Trong quá trình xây dựng Luật Thanh niên, độ tuổi để xác định là tuổi thanh niên cũng đã đƣợc bàn bạc, thảo 7 luận, tranh luận với nhiều ý kiến khác nhau và cuối cùng đi đến thống nhất với quy định từ đủ mƣời sáu tuổi đến ba mƣơi tuổi. Ngoài ra, khái niệm thanh niên cũng đƣợc xem xét, nhìn nhận dƣới nhiều góc độ khác nhƣ triết học, giáo dục học, văn hóa học… Từ những khái niệm trên có thể hiểu thanh niên nông thôn là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi, cƣ trú trên địa bàn nông thôn. Tuy nhiên, ở phạm vi đề tài này, tác giả đề cập đến đối tƣợng thanh niên nông thôn 16 đến 30 tuổi, có khả năng lao động, đang làm việc hoặc chƣa có việc làm nhƣng có nhu cầu tìm kiếm việc làm. Đối tƣợng này không bao gồm học sinh, sinh viên, đang đi học hoặc những ngƣời không có khả năng lao động.

Hiện nay thanh niên nông thôn chiếm tỷ lệ cao so với thanh niên cả nƣớc, là lực lƣợng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Trình độ văn hóa và chuyên môn của thanh niên nông thôn có xu hƣớng tăng lên nhƣng vẫn thấp hơn so với thanh niên thành thị. Thanh niên nông thôn đang có xu hƣớng dịch chuyển ra khu vực thành phố, tham gia lao động tại các khu công nghiệp trong nƣớc hoặc xuất khẩu lao động ra nƣớc ngoài. Vị trí, vai trò của thanh niên Vấn đề thanh niên và công tác thanh niên luôn đƣợc xác định là một vấn đề vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia, dân tộc trong quá trình phát triển của mình.

Lực lƣợng thanh niên là một lực lƣợng xã hội rộng lớn có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định tiềm năng, vai trò, vị trí to lớn của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, luôn tin tƣởng và nhìn nhận thanh niên theo quan điểm phát triển. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng“Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”, “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên”. Ngƣời cho rằng sự phát triển trong tƣơng lai của đất nƣớc và tiền đồ vẻ vang của dân tộc nằm trong tay thanh thiếu nhi.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nƣớc, Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin vào sức mạnh 8 của thanh niên: "Với một thế hệ thanh niên hăng hái kiên cường, chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc". Ngƣời còn chỉ rõ, thanh niên là ngƣời kết nối quá khứ với tƣơng lai: "Thanh niên là người tiếp sức mạnh cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai". Ngƣời thấy rõ sự đóng góp to lớn của tuổi trẻ Việt Nam trong sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc. Bất kỳ ở thời đại nào, tuổi trẻ Việt Nam cũng là lực lƣợng đông đảo nhất, hùng hậu nhất, dũng cảm nhất trong các cuộc chống xâm lăng, là lực lƣợng gánh vác những công việc nặng nề, khó khăn vất vả nhất trong lao động, sản xuất, chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt.

Trong quá trình lãnh đạo đất nƣớc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đề cao vị trí, vai trò của thanh niên, xác định thanh niên là lực lƣợng xung kích cách mạng, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc. Đồng thời, Đảng đã đề ra nhiều chủ trƣơng giáo dục, đào tạo, bồi dƣỡng, tổ chức thanh niên thành lực lƣợng hùng hậu, trung thành, kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Qua mỗi thời kỳ, dù bất cứ hoàn cảnh nào các thế hệ thanh niên đều hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình. Quan điểm chiến lƣợc về công tác thanh niên đƣợc trình bày tập trung tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, sau khi đất nƣớc hoàn toàn giải phóng với luận điểm: "Tiền đồ rạng rỡ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nằm trong tay thanh niên, thiếu niên và nhi đồng".

Nghị quyết 04/NQ-TƢ của Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá VII khẳng định: "Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường XHCN hay không, phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên. Công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng”. 9 Nghị quyết 25/NQ-TƢ Ban Chấp hành "Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước". Quản lý nhà nƣớc về việc làm 1. Việc làm Lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu đƣợc của con ngƣời, nó là hoạt động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con ngƣời.

Bản thân cá nhân mỗi con ngƣời trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định. Mỗi vị trí mà ngƣời lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất xã hội với tƣ cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất đƣợc gọi là chỗ làm hay việc làm. Nhƣ vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Ngƣời lao động đƣợc coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội.

Nhờ có việc làm mà ngƣời lao động mới thực hiện đƣợc quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân. Một ngƣời đƣợc coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: Đó là những công việc mà ngƣời lao động nhận đƣợc tiền công, đó là những công việc mà ngƣời lao động thu lợi nhuận cho bản thân và gia đình, hoạt động đó phải đƣợc pháp luật thừa nhận. Trên thực tế, việc làm đƣợc thừa nhận dƣới 3 hình thức: Làm công việc để nhận đƣợc tiền lƣơng, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó. Làm công việc để thu lợi cho bản thân, mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu một phần hoặc toàn bộ tƣ liệu sản xuất để tiến hành công việc đó.

10 Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao dƣới hình thức tiền lƣơng, tiền công cho công việc đó. Hình thức này bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý. Theo Luật lao động năm 2012: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm. Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi ngƣời có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nƣớc, của các doanh nghiệp và toàn xã hội.

Theo Luật việc làm 2013: Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm. Với cách hiểu chung nhất là ngƣời có việc làm là ngƣời đang có hoạt động nghề nghiệp, có thu nhập từ hoạt động đó để nuôi sống bản thân và gia đình mà không bị pháp luật ngăn cấm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Quản Lý Nhà Nước Về Việc Làm Cho Thanh Niên Nông Thôn Tại Huyện Ba Bể, Bắc Kạn là một nghiên cứu chuyên sâu về các giải pháp quản lý nhà nước nhằm tạo việc làm bền vững cho thanh niên nông thôn tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Tài liệu này phân tích thực trạng việc làm, đánh giá các chính sách hiện hành, và đề xuất các biện pháp cụ thể để cải thiện cơ hội việc làm cho nhóm đối tượng này. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, và những ai quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực nông thôn.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn tốt nghiệp quản lý của chính quyền thành phố chí linh đối với phát triển nông nghiệp, nghiên cứu về vai trò của chính quyền địa phương trong phát triển nông nghiệp. Ngoài ra, Luận án ts xây dựng mô hình phát triển nông nghiệp hiện đại ở tỉnh hải dương cung cấp góc nhìn về ứng dụng công nghệ hiện đại trong nông nghiệp. Cuối cùng, Luận văn phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn huyện tân yên tỉnh bắc giang là tài liệu tham khảo hữu ích về mô hình kinh tế trang trại bền vững. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn các chủ đề liên quan đến phát triển nông thôn và quản lý nhà nước.