Tổng quan nghiên cứu

Việc làm cho thanh niên nông thôn là vấn đề chiến lược đặc biệt quan trọng trong chính sách an sinh xã hội và phát triển kinh tế bền vững của Việt Nam. Theo số liệu thống kê năm 2018, cả nước có trên 23,6 triệu thanh niên trong độ tuổi 16 đến 30 tuổi, chiếm 25,2% dân số, trong đó thanh niên nông thôn chiếm tới 70,96% với 16,746 triệu người. Tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn – một địa bàn miền núi với hơn 80% diện tích là đất lâm nghiệp và đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 95% dân số – lực lượng thanh niên có 13.297 người, chiếm gần 27% dân số toàn huyện và đóng góp khoảng 45% tổng lực lượng lao động địa phương. Trong đó, thanh niên dân tộc thiểu số khu vực nông thôn chiếm tỷ lệ áp đảo với 96,44%, tương ứng 12.824 người.

Thực tiễn quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên nông thôn tại huyện Ba Bể giai đoạn 2012 - 2018 ghi nhận nhiều nỗ lực nhưng vẫn bộc lộ những rào cản lớn. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn thấp, tình trạng thiếu việc làm thời vụ trong nông nghiệp diễn ra phổ biến và xu hướng thanh niên di cư tự do ra các khu công nghiệp ngoại tỉnh ngày càng gia tăng. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với việc làm của thanh niên nông thôn trên địa bàn 15 xã của huyện Ba Bể, chỉ rõ những điểm nghẽn về chính sách và tổ chức thực thi. Từ đó, công trình đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý công, phấn đấu kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện từ mức 25,2% năm 2018 và phát huy tối đa tiềm năng của nguồn nhân lực trẻ trong phát triển kinh tế địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý công hiện đại kết hợp các quan điểm, đường lối của Đảng và hệ thống pháp luật Việt Nam về lao động, việc làm và thanh niên. Nghiên cứu tập trung làm rõ 4 khái niệm nền tảng:

  • Thanh niên: Công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi theo quy định của Luật Thanh niên năm 2005.
  • Thanh niên nông thôn: Lực lượng công dân trong độ tuổi 16 đến 30 cư trú tại địa bàn nông thôn, có khả năng lao động, đang làm việc hoặc đang có nhu cầu tìm kiếm việc làm.
  • Việc làm: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập hợp pháp mà không bị pháp luật ngăn cấm, căn cứ theo Luật Việc làm năm 2013 và Bộ luật Lao động năm 2012.
  • Quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên nông thôn: Quá trình các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng quyền lực công quyền để ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch phát triển mạng lưới dạy nghề, định hướng thông tin thị trường lao động, thực hiện chính sách hỗ trợ tín dụng và thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật.

Khung phân tích của luận văn xây dựng dựa trên 6 nội dung quản lý nhà nước cơ bản: hoàn thiện thể chế chính sách, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, quản lý thông tin thị trường lao động, tổ chức đào tạo nghề và dịch vụ việc làm, hợp tác quốc tế về xuất khẩu lao động và công tác kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp linh hoạt các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng chuyên sâu:

  • Nguồn dữ liệu và cỡ mẫu: Thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2012 - 2018 của Ủy ban nhân dân huyện Ba Bể, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Kạn. Đồng thời, tác giả thực hiện điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đối với 600 thanh niên nông thôn và tham vấn ý kiến chuyên sâu từ lãnh đạo 02 doanh nghiệp sử dụng lao động tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn.
  • Phương pháp chọn mẫu: Luận văn áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên phân bổ đồng đều trên địa bàn 15 xã của huyện Ba Bể. Phương pháp này đảm bảo tính đại diện cao cho các vùng sinh thái, mức độ thuận lợi về giao thông và cơ cấu các nhóm dân tộc thiểu số chính như Tày (57%), Dao (21%), Mông (12%) và Nùng (7%).
  • Phương pháp phân tích: Ứng dụng thống kê toán học, phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu số liệu và phương pháp chuyên gia. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác mức độ tiếp cận chính sách của thanh niên, đánh giá khoảng cách giữa cung - cầu lao động và nhận diện nguyên nhân sâu xa của những hạn chế trong bộ máy quản trị công tại địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2012 - 2018 đã chỉ ra 4 phát hiện trọng tâm về thực trạng quản lý và việc làm của thanh niên nông thôn huyện Ba Bể:

Thứ nhất, cơ cấu việc làm của địa phương còn mất cân đối nghiêm trọng và phụ thuộc lớn vào nông nghiệp thuần túy. Tính đến cuối năm 2018, trong tổng số 25.456 lao động có việc làm thường xuyên toàn huyện, ngành nông - lâm - thủy sản chiếm tới 76,7% với 19.525 người. Ngành thương mại - dịch vụ chỉ chiếm 16,4% tương ứng 4.175 người và ngành công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn là 6,9% với 1.756 người. Tỷ lệ thanh niên thiếu việc làm trong thời gian nông nhàn vẫn ở mức cao.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực trẻ qua đào tạo nghề còn thấp dù đã có bước tiến bộ. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện tăng từ 17,22% năm 2011 lên 20,67% năm 2015, trong đó lao động qua đào tạo nghề tăng từ 11,98% lên 18,79%. Giai đoạn 2011 - 2015, huyện đã phối hợp tổ chức 63 lớp dạy nghề cho 2.016 học viên (bình quân 403 học viên/năm). Tuy nhiên, số lớp đào tạo hàng năm vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế của 13.297 thanh niên trên địa bàn.

Thứ ba, sự phân hóa rõ nét về hiệu quả việc làm sau đào tạo giữa các nhóm ngành. Tỷ lệ lao động sau khi tham gia các lớp đào tạo nghề nông nghiệp tự tạo việc làm và ứng dụng khoa học kỹ thuật đạt trên 90%. Ngược lại, tỷ lệ có việc làm ổn định sau khi học các nghề phi nông nghiệp chỉ đạt trên 60% do thiếu liên kết với các cơ sở sản xuất kinh doanh tại địa phương.

Thứ tư, xu hướng dịch chuyển lao động nông thôn ra các khu công nghiệp ngoài tỉnh tăng đột biến. Trong 3 năm từ 2016 đến 2018, huyện đã giải quyết việc làm mới cho 4.147 người. Riêng năm 2018, toàn huyện giải quyết việc làm cho 1.505 lao động, đạt 186,26% kế hoạch năm, trong đó có tới 1.393 lao động chuyển dịch làm việc tại các khu công nghiệp trong nước, đạt 194,28% chỉ tiêu giao. Đồng thời, giai đoạn 2012 - 2018 đã có 427 lao động tham gia làm việc có thời hạn ở nước ngoài tại các thị trường Malaysia, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu phản ánh bức tranh thực tế về sự chuyển dịch cơ cấu lao động tại huyện miền núi Ba Bể. Để trực quan hóa những kết quả này trong công tác báo cáo quản lý, dữ liệu nên được biểu diễn thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 3 khu vực kinh tế (với 76,7% nông nghiệp chiếm ưu thế), kết hợp biểu đồ cột so sánh tốc độ gia tăng lao động đi làm việc ngoại tỉnh qua các năm và bảng tổng hợp phân tích kết quả 63 lớp đào tạo nghề.

Nguyên nhân của những hạn chế bắt nguồn từ nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận cán bộ công chức về tầm quan trọng của công tác đào tạo nghề, sự phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý lao động và các đoàn thể còn mang tính thời điểm. So sánh với các mô hình thành công tại địa phương lân cận như huyện Sơn Dương (tỉnh Tuyên Quang giải quyết việc làm cho 5.328 lao động năm 2018) hay huyện Yên Sơn (giải quyết việc làm mới cho 4.731 người và kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống 12,3%), Ba Bể chưa phát huy hết lợi thế tự nhiên như cảnh quan danh thắng Hồ Ba Bể và độ che phủ rừng 67,3% để phát triển dịch vụ du lịch sinh thái và kinh tế lâm nghiệp tại chỗ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về việc làm cho thanh niên nông thôn huyện Ba Bể, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ giai đoạn 2020 - 2025:

  1. Hoàn thiện cơ chế chính sách và mở rộng nguồn vốn tín dụng ưu đãi: Ủy ban nhân dân huyện Ba Bể chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện tăng trưởng quy mô nguồn vốn vay ưu đãi hàng năm từ 15% đến 20%. Tập trung giải ngân vốn ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm cho các dự án khởi nghiệp của thanh niên trong lĩnh vực du lịch cộng đồng (homestay) quanh khu vực Hồ Ba Bể, mô hình trang trại chăn nuôi gia súc và phát triển 1.140 ha rừng trồng sản xuất.
  2. Đổi mới quy trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện phối hợp với Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện tăng quy mô đào tạo từ 400 lên tối thiểu 600 - 800 lượt thanh niên/năm trong lộ trình 2020 - 2023. Chuyển dịch mạnh cơ cấu đào tạo sang các nghề kỹ thuật phi nông nghiệp, chế biến lâm sản và dịch vụ lữ hành, phấn đấu đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt trên 25% vào năm 2025.
  3. Phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động và dịch vụ việc làm: Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Bắc Kạn phối hợp cùng Huyện đoàn Ba Bể định kỳ tổ chức tối thiểu 02 hội chợ việc làm cấp huyện và 15 buổi tư vấn hướng nghiệp trực tiếp tại 15 xã mỗi năm. Mục tiêu là cung cấp thông tin tuyển dụng minh bạch, chính quy cho 100% thanh niên có nhu cầu thoát ly làm việc tại các khu công nghiệp hoặc đi xuất khẩu lao động.
  4. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công chức quản lý nhà nước: Ủy ban nhân dân huyện Ba Bể triển khai chương trình bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ quản lý công, kỹ năng dự báo cung - cầu lao động cho 100% cán bộ chuyên trách công tác Lao động - Thương binh và Xã hội cấp xã và cán bộ Đoàn cơ sở trước năm 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm độc giả trong hệ thống hành chính và nghiên cứu khoa học:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Cán bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội sử dụng luận văn làm tài liệu căn cứ để xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, định hướng chuyển dịch việc làm cho hơn 28.000 người trong độ tuổi lao động.
  • Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên: Đội ngũ cán bộ đoàn các cấp tại khu vực miền núi tham khảo các mô hình liên kết kinh tế thanh niên, các giải pháp tuyên truyền pháp luật và cách thức quản lý nguồn vốn vay ủy thác cho 12.824 thanh niên dân tộc thiểu số.
  • Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trung tâm dịch vụ việc làm: Ban giám hiệu, giảng viên các trường trung cấp, cao đẳng nghề sử dụng số liệu khảo sát 600 mẫu của luận văn để điều chỉnh giáo trình, thiết kế chỉ tiêu mở lớp sát với đặc điểm lao động nông thôn vùng cao.
  • Học viên, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý công: Giới học thuật tìm thấy khung lý thuyết hoàn chỉnh, phương pháp khảo sát chọn mẫu phân tầng khoa học và bộ dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2012 - 2018 phục vụ nghiên cứu so sánh quản trị công trong lĩnh vực lao động - xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ lao động thanh niên qua đào tạo nghề tại huyện Ba Bể đạt mức bao nhiêu?
Giai đoạn 2011 - 2015, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề của huyện tăng từ 11,98% lên 18,79%, và tỷ lệ lao động qua đào tạo chung đạt 20,67%. Mặc dù đã có bước tăng trưởng đáng khích lệ, hơn 81% thanh niên nông thôn tại Ba Bể vẫn chưa qua đào tạo nghề chính quy, dẫn đến hạn chế lớn về năng lực cạnh tranh trên thị trường lao động.

2. Nguyên nhân chủ yếu nào khiến thanh niên Ba Bể ồ ạt chuyển dịch ra ngoài tỉnh làm việc?
Năm 2018 có tới 1.393 lao động chuyển dịch làm việc tại các khu công nghiệp ngoại tỉnh, đạt 194,28% kế hoạch. Nguyên nhân chính là do kinh tế địa phương chủ yếu là thuần nông (chiếm 76,7% lao động), thu nhập bình quân thấp và tình trạng nông nhàn kéo dài, trong khi các khu công nghiệp tại Thái Nguyên, Bắc Ninh mang lại nguồn thu nhập tiền mặt tức thời cao hơn.

3. Hiệu quả giải quyết việc làm sau đào tạo nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp khác nhau như thế nào?
Khảo sát thực tế giai đoạn 2011 - 2015 từ 63 lớp dạy nghề cho 2.016 học viên cho thấy: tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo nghề nông nghiệp đạt trên 90% nhờ khả năng ứng dụng trực tiếp vào diện tích canh tác sẵn có; trong khi tỷ lệ này ở nhóm nghề phi nông nghiệp chỉ đạt trên 60% do thiếu cơ sở sản xuất tại chỗ.

4. Phương pháp khảo sát xã hội học của luận văn có bảo đảm tính đại diện không?
Luận văn đã khảo sát trực tiếp 600 thanh niên phân bổ đều khắp 15 xã của huyện Ba Bể kết hợp tham vấn 02 doanh nghiệp địa phương. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo địa bàn xã bảo đảm phản ánh chính xác tiếng nói của đồng bào dân tộc thiểu số vốn chiếm 95% dân số toàn huyện.

5. Luận văn đề xuất giải pháp đột phá nào để tạo việc làm tại chỗ cho thanh niên?
Giải pháp trọng tâm là khai thác tiềm năng danh thắng Hồ Ba Bể và độ che phủ rừng 67,3% để phát triển kinh tế xanh. Luận văn khuyến nghị tăng trưởng vốn vay ưu đãi 15% - 20%/năm để hỗ trợ thanh niên lập nghiệp với mô hình du lịch sinh thái cộng đồng và trang trại nông lâm kết hợp.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện khung lý luận và chuẩn mực pháp lý về quản lý nhà nước đối với việc làm của thanh niên nông thôn tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Phân tích bức tranh thực tiễn của 13.297 thanh niên tại 15 xã huyện Ba Bể giai đoạn 2012 - 2018, chỉ ra tỷ lệ phụ thuộc vào nông nghiệp lên tới 76,7% và tỷ lệ đào tạo nghề mới đạt 18,79%.
  • Lượng hóa rõ nét xu hướng di chuyển lao động ra các khu công nghiệp ngoại tỉnh với 1.393 người trong năm 2018 và đánh giá khách quan hiệu quả của 63 lớp dạy nghề cho 2.016 học viên.
  • Hoàn thiện hệ thống giải pháp 4 trọng tâm bao gồm chính sách vốn vay ưu đãi, đổi mới quy mô dạy nghề lên 600 - 800 học viên/năm, phát triển sàn giao dịch việc làm và nâng cao năng lực đội ngũ công chức thực thi.
  • Cung cấp nguồn cơ sở dữ liệu thực chứng tin cậy từ 600 phiếu điều tra xã hội học, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện chính sách an sinh xã hội cấp huyện.

Đóng góp lớn nhất của công trình là xác lập cơ sở khoa học để chính quyền địa phương chuyển từ phương thức giải quyết việc làm thụ động, mang tính thời điểm sang mô hình quản trị việc làm chủ động, dựa trên chuỗi giá trị bản địa. Trong giai đoạn tiếp theo 2020 - 2025, các cơ quan ban ngành huyện Ba Bể cần khẩn trương đưa các khuyến nghị vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm. Hãy cùng chung tay tham khảo, lan tỏa và ứng dụng các giải pháp từ luận văn để mở ra cơ hội lập thân, lập nghiệp vững chắc cho thế hệ trẻ vùng cao Ba Bể.