phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương. Chƣơng 1: Lý luận quản lý nhà nước về GQVL cho LĐ nữ Chƣơng 2: Thực trạng việc làm và quản lý nhà nước về GQVL cho LĐ nữ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị Chƣơng 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu quản lý nhà nước GQVL cho LĐ nữ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đến năm 2020; định hướng đến năm 2025. 6 Chƣơng 1 LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của lao động nữ 1.
Lao động Trong Bộ Luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam viết: "Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội" 1. Việc làm Bộ Luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi bổ sung năm 2012. Điều 9, Chương II quy định: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm".3 Quản lý Nhà nước Theo nghĩa rộng, QLNN là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, QLNN là hoạt động của cả ba hệ thống cơ quan nhà nước: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình, chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sát nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ… 7 1.4 Giải quyết việc làm Theo nghĩa rộng: GQVL là tổng thể những biện pháp, chính sách kinh tế xã hội của nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo cho mọi người có khả năng LĐ có việc làm. Theo nghĩa hẹp: GQVL là các biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp, thiếu việc làm nhằm tạo ra việc làm cho người LĐ, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp nhất. Đặc điểm của lao động nữ và việc làm cho lao động nữ 1.
Đặc điểm của lao động nữ Cùng với nam giới, phụ nữ cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Phụ nữ có mặt trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, có sự khác biệt về đặc điểm tâm sinh lý giữa LĐ nam và LĐ nữ, khi đề cập, đặc điểm LĐ nữ với đặc thù cơ bản là: - Sức khỏe và chức năng sinh học của lao động nữ: Ngoài chức năng LĐ, LĐ nữ còn thực hiện thiên chức sinh đẻ và nuôi con; cơ thể người phụ nữ không có cấu trúc để chịu đựng những tác động lớn, mạnh mẽ và rất dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố độc hại, nguy hiểm. Do có những đặc điểm riêng biệt này mà LĐ nữ khó khăn hơn so với lao động nam về tìm kiếm việc làm, ổn định việc làm lâu dài và bảo đảm thu nhập.
Hơn nữa, cũng do phải thực hiện thiên chức nên LĐ nữ cần thiết được bảo vệ khi tham gia quan hệ LĐ, tránh những ảnh hưởng có hại từ điều kiện LĐ đến chức năng sinh đẻ và nuôi con của họ, tức là ảnh hưởng đến quá trình tái sản xuất mở rộng lực lượng LĐ. Trong điều kiện kinh tế thị trường, vấn đề này luôn được xem là ”Hạn chế của phụ nữ” trong tìm việc làm; những đặc trưng riêng về sức khỏe, tính cách, tâm lý và đặc điểm xã hội, đã tác động đến việc làm của họ. Do tạo hoá, phụ nữ nhìn chung 8 có thể hình nhỏ bé hơn, sức mạnh và độ dẻo dai kém hơn LĐ nam nên thường chọn những công việc nhẹ nhàng, ít nặng nhọc, ít độc hại và nguy hiểm. Phụ nữ thường chăm chỉ, chịu khó, kiên nhẫn, cần cù với công việc nên có những việc làm do LĐ nữ đảm nhận thường hiệu quả hơn so với nam giới.
- Tính bất bình đẳng giới trong xã hội: LĐ nữ thuộc nhóm LĐ yếu thế, phải chịu nhiều thiệt thòi vì định kiến giới, đặc biệt là trong lĩnh vực LĐ. Họ dễ rơi vào tình trạng bị bóc lột sức LĐ, dễ bị tổn thương và bất bình đẳng trong việc làm so với nam giới do thị trường LĐ vẫn đang được phân loại theo giới tính. Thực tế cho thấy, LĐ nữ không chỉ bất bình đẳng với nam giới trên phương diện cơ hội việc làm mà họ còn phải chịu sự bất bình đẳng so với LĐ nam cả về phương diện thu nhập. Theo thống kê của Bộ LĐ-TB&XH, thu nhập thực tế của LĐ nữ chỉ bằng 87,9% thu nhập LĐ nam cùng ngành nghề.
- Sự chênh lệch về trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ giữa lao động nam và nữ còn rất lớn: Có thể dễ dàng nhận thấy LĐ nữ có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hơn hẳn so với nam giới “Trình độ học vấn, nghề nghiệp của phụ nữ nhìn chung còn thấp so với nam giới và so với yêu cầu của thời kỳ CNH, HĐH; hơn thế nữa sự chênh lệch về trình độ học vấn của phụ nữ so với nam giới ở các bậc học ngày càng cao. Gánh nặng công việc gia đình làm cản trở phụ nữ tiến bộ…”. Tỷ lệ LĐ nữ ở Việt Nam chưa qua đào tạo chiếm tới hơn 80%. Năm 2017, phân bổ lực lượng LĐ chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đạt được đã cho thấy trình độ chuyên môn kỹ thuật của LĐ nữ còn rất thấp.
Tỷ lệ LĐ nữ không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 84,1%; sơ cấp nghề 2,1; trung cấp nghề 3,9%; cao đẳng nghề 2,6%; đại học trở lên 7,2%. Đặc điểm việc làm của lao động nữ Vấn đề việc làm cho LĐ nữ đã được đặt ra rất sớm và có nhiều quan điểm khác nhau: 9 Các Mác đã đề cập đến việc làm cho LĐ nữ trong quá trình nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa: “Vì máy móc làm cho lao động sức bắp thịt trở thành thừa, cho nên nó trở thành một công cụ để sử dụng những người LĐ không có sức bắp thịt hoặc cơ thể chưa phát triển đầy đủ nhưng chân tay lại mềm mại hơn. Vì vậy, khi tư bản sử dụng máy móc thì tiếng nói đầu tiên của nó là LĐ phụ nữ và trẻ em’’. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã bàn về việc làm cho LĐ nữ trong Điều 8 Công ước xúc tiến việc làm năm 1988: “Tuỳ theo thực tiễn và pháp luật hoặc quy định quốc gia mỗi nước thành viên sẽ cố gắng thiết lập chương trình đặc biệt để khuyến khích những cơ hội có việc làm thêm và sự trợ giúp việc làm và khuyến khích tự do lựa chọn việc làm có hiệu quả những loại người bị bất lợi đã được xác định có thể bị khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm lâu dài như phụ nữ, thiếu niên, người bị khuyết tật, người thất nghiệp vĩnh viễn, người lao động di trú hợp pháp tại Nước thành viên và những người lao động dôi ra do thay đổi cơ cấu”.
Bộ Luật lao động (2012) của nước ta đã dành riêng một chương cho LĐ nữ. Trong Điều 153 của Bộ Luật Lao động đã chỉ rõ “Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới, có chính sách khuyến khích người sử dụng LĐ tạo điều kiện để người lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, không trọn tuần, giao việc làm tại nhà”. - Các đặc điểm cơ bản của LĐ nữ đã tạo nên tính quy định đặc điểm việc làm của họ. + Việc làm của LĐ nữ tập trung ở các lĩnh vực hành chính sự nghiệp, các ngành công nghiệp nhẹ, các lĩnh vực thương mại và dịch vụ + Việc làm của LĐ nữ chủ yếu trong các lĩnh vực không đòi hỏi kỹ thuật cao, phức tạp 10 + Có sự chuyển dịch theo hướng cân bằng cơ cấu việc làm giữa LĐ nữ và LĐ nam trong các thành phần kinh tế theo thời gian 1.
Vai trò của việc làm đối với LĐ nữ trong sự phát triển KT-XH LĐ nữ nước ta chiếm 51% lực lượng LĐ toàn quốc và tham gia vào mọi ngành, mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Đặc biệt, trong nhiều ngành nghề, phụ nữ chiếm tỷ lệ cao, giữ vai trò quyết định trong sản xuất và phát triển. - Thứ nhất, trong nhóm ngành dịch vụ, LĐ nữ đóng góp có tính chất quyết định bởi họ có ưu thế hơn hẳn nam giới trong lĩnh vực này, đặc biệt là ở các ngành như giáo dục, y tế, ngân hàng, thương nghiệp, vật tư, văn phòng, tiếp tân, bưu điện…Theo điều tra của Viện Khoa học Lao động và các vấn đề xã hội, khoảng 60% lao động việc làm trong khu vực phi chính thức là phụ nữ và từ 40-60% chị em hoạt động trong ngành thương mại (tiểu thương và cửa hàng ăn uống nhỏ) (năm 1999). Phụ nữ ngành giáo dục đào tạo chiếm 67,1%, y tế bảo hiểm, may mặc chiếm 63,7%.
- Thứ hai, trong ngành công nghiệp (43,2%) và xây dựng (26%) đều có sự tham gia đông đảo của LĐ nữ. Ở đây, ngoài việc làm bình đẳng với nam giới, phụ nữ phải làm các công việc nặng nhọc, độc hại như làm đường, gõ gỉ, sơn, phụ hồ hoặc làm hóa chất độc hại….Đó là những thiệt thòi, song họ cũng đã khặng định vai trò của mình trong sự phát triển của đất nước. Nhà nước cũng cần chính sách nhằm cải thiện điều kiện làm việc, hạn chế những ảnh hưởng xấu tới sức khỏe mọi người nói chung và LĐ nữ nói riêng.