phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 1. VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ SỰ CẦN THIẾT GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HÓA 1. Việc làm và sự cần thiết giải quyết việc làm cho ngƣời lao động 1.
Việc làm Việc làm là một dạng hoạt động kinh tế - xó hội. Hoạt động đó không đơn thuần là sự kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất, mà nó cũn bao gồm cả những yếu tố xó hội. Muốn sự kết hợp đó diễn ra và không ngừng phát triển, phải tạo ra được sự phù hợp cả về số lượng, chất lượng sức lao động với tư liệu sản xuất, trong một môi trường kinh tế - xó hội thuận lợi, đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra. 9 Theo cỏch hiểu này, việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, cộng nghệ.) để sử dụng sức lao động đó.
Trạng thái phù hợp được thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chi phí ban đầu (C) như nhà xưởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu và chi phí về sức lao động (V). Quan hệ tỷ lệ biểu hiện sự kết hợp giữa C và V phải phù hợp với trình độ công nghệ của sản xuất hiện có. Khi trình độ kỹ thuật, công nghệ thay đổi, thì sự kết hợp đó cũng thay đổi theo. Khi nền kinh tế được phát triển theo hướng hiện đại, thì quan hệ gữa lao động và tư liệu sản xuất được chuyển dịch theo hướng công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều sức lao động sang công nghệ chất lượng cao và lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
Chẳng hạn trong điều kiện kỹ thuật thủ công, một đơn vị chi phí ban đầu về tư liệu sản xuất có thể kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động, còn trong điều kiện tự động hóa, sản xuất theo dây truyền hiện đại thì chi phí về vốn thiết bị công nghệ rất cao nhưng chỉ đòi hỏi sức lao động tỷ lệ rất thấp. Do đó, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phương án phù hợp để giải quyết việc làm cho người lao động. Trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất mạnh mẽ như hiện nay, quan hệ tỷ lệ giữa C và V thường xuyên biến đổi theo các dạng khác nhau. - Sự phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động có nghĩa là mọi người có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có việc làm.
Nếu chỉ xét trên phương diện sử dụng hết thời gian lao động khi có việc làm thì việc làm đó là việc làm đầy đủ; còn trong trường hợp sự phù hợp của mối quan hệ này cho phép sử dụng triệt để tiềm năng về vốn, tư liệu sản xuất và sức lao động ta có khái niệm việc làm hợp lý. 10 - Sự không phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động sẽ dẫn đến thiếu nguồn nhân lực hoặc thừa nguồn nhân lực, tức là thiếu việc làm và thất nghiệp. Điều 13 chương II “Việc làm” của Bộ luật Lao động Việt Nam có nêu: “ Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Theo đó, một hoạt động được coi là việc làm, cần thoả mãn hai điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và cho các thành viên trong gia đình.
Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm. Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động ở Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Người lao động hợp pháp ngày nay được đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do tìm kiếm việc làm trong mọi thành phần kinh tế. Hai tiêu thức trên có mối quan hệ chặt chẽ nhau là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được thừa nhận là có việc làm. Ta có thể tham khảo khái niệm việc làm do Tổ chức Lao động quốc tế của Liên hợp quốc (ILO) đưa ra như sau: “Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”. Từ các quan niệm trên, có thể hiểu việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ.) để sử dụng sức lao động đó.
Dựa vào khái niệm này, ta có thể giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề giải quyết việc làm. Ngược với có việc làm là tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp. Thiếu việc làm (còn gọi là bán thất nghiệp), là tình trạng trong xã hội có 11 những người làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn. Nó được biểu hiện dưới hai dạng: hoặc là người lao động không có đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng, hoặc làm những công việc có thu nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống cần thiết, nên muốn làm thêm việc để có thu nhập.
Thất nghiệp là tình trạng của những người có khả năng lao động bị mất việc làm hoặc muốn đi làm nhưng không tìm được việc làm. Đây là hiện tượng bị tách rời sức lao động khỏi tư liệu sản xuất. Thất nghiệp và thiếu việc làm là những vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc đối với nhiều nước hiện nay, nhất là đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Sự cần thiết phải giải quyết việc làm cho người lao động có đất bị thu hồi trong quá trình CNH, HĐH - Thu hồi đất nông nghiệp chuyển sang đất công nghiệp và đô thị là một tất yếu Đất đai là cơ sở tự nhiên, là tiền đề trước tiên của mọi quá trình sản xuất.
Nó tham gia vào mọi quá trình sản xuất của xã hội nhưng tuỳ thuộc vào từng ngành cụ thể mà vai trò của đất đai có sự khác nhau. Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất đai không chỉ tham gia với tư cách là yếu tố thông thường mà là yếu tố tích cực của sản xuất, là tư liệu, là đối tượng chủ yếu không thể thiếu, không thể thay thế được. Đất bị giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất là vô hạn. Mỗi vùng, miền có giới hạn diện tích đất khác nhau và tỷ lệ đất cho quá trình công nghiệp hoá ở mỗi vùng lại càng khác biệt nhau vì nó còn tuỳ thuộc vào điều kiện đất đai, địa hình và trình độ phát triển kỹ thuật, lợi thế của từng vùng.
Do vậy, tại các địa phương kinh tế phát triển mạnh đất đai ngày càng trở thành nguồn lực quý hiếm, có giá trị rất lớn đối với mọi nền kinh tế. 12 Đất đai bị bị giới hạn bởi diện tích, trong khi đó quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá phát triển như hiện nay thì đất đai ngày càng trở lên quý hiếm và có giá trị cao trong nền kinh tế. Trong quá trình CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân, việc thu hồi đất, chuyển một bộ phận đất nông nghiệp sang đất làm công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng và đô thị hóa là một tất yếu. Công nghiệp hoá hiện đại hóa là một tất yếu khách quan, luôn gắn liền với xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị mới, xây dựng kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại, và cũng có nghĩa là việc thu hồi đất ngày càng tăng.
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để triển khai các dự án lớn của nền kinh tế mang tính quy luật. Đất đai được chuyển đổi mục đích sử dụng ở nước ta góp phần phát triển mạnh nền kinh tế quốc dân. Nhờ có thu hồi đất, cả nước đã xây dựng được hơn 131 khu công nghiệp, thu hút được hàng trăm dự án đầu tư lớn. Vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năm 2006 đạt 78.248,2 triệu USD ( vốn thực hiện 37.271,7 triệu USD); đầu tư ở khu vực dân doanh, giá trị thực tế năm 2006 đạt 150.
Nước ta đã nâng cấp và xây dựng mới được hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại hơn. Một số thành phố lớn được nâng cấp mở rộng nhanh, nhiều thị xã được mở rộng nâng cấp lên thành phố, hình thành một hệ thống các đô thị trung tâm và đô thị vệ tinh, từng bước thực hiện tốt mục tiêu chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Kinh tế phát triển đã tạo điều kiện thu hút, giải quyết việc làm ổn định cho hàng triệu lao động với mức thu nhập khá, số lao động làm việc trong các khu công nghiệp không ngừng tăng. Việc thu hồi đất đã tạo sự phát triển các khu công nghiệp trong thời gian qua đã tạo ra những bước đột phá trong phát triển công nghiệp nói 13 riêng và trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá góp phần rất quan trọng vào việc đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất kinh doanh của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, cũng như đào tạo cho đất nước một đội ngũ lao động có trình độ lao động cao, có tác phong làm việc hiện đại. Công nghiệp hoá, hiện đại hóa có tác động tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng địa phương, đa dạng hoá nghành nghề, nâng cao trình độ công nghệ và khả năng cạnh tranh sản phẩm, góp phần tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của cả nước. Việc thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, nâng cao dân trí và thực hiện các chính sách xã hội. Trong thời kỳ 2001-2006 các khu công nghiệp, khu chế xuất đã thu hút thêm đựơc khoảng 865.000 lao động trực tiếp, ước tính lượng lao động gián tiếp khoảng 1,5 triệu người.