Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Đảng lãnh đạo giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Chung thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2016), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Quang Hiển. Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, mã số 62 22 56 01.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Vấn đề dân tộc - quốc gia dân tộc (nation) là nội dung rộng lớn, giữ vị trí then chốt về mặt lý luận và thực tiễn trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Từ khi thực dân Pháp áp đặt ách thống trị trên bán đảo Đông Dương và thành lập Liên bang Đông Dương (gồm Việt Nam và Campuchia năm 1887, bổ sung Lào năm 1899), các quốc gia này bị tước đoạt độc lập, nhân dân mất quyền tự do. Thực chất của vấn đề dân tộc ở thuộc địa chính là cuộc đấu tranh giành lại độc lập dân tộc.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc giai đoạn 1930-1945, Đảng Cộng sản Việt Nam (từ tháng 10-1930 đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương) đã vận dụng lý luận và phân tích thực tiễn để giải quyết vấn đề dân tộc qua hai mối quan hệ cốt lõi:

  1. Mối quan hệ giữa Việt Nam với Lào và Campuchia: Tồn tại hai quan điểm xuyên suốt gồm giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước riêng biệt hoặc giải quyết chung trong phạm vi toàn Đông Dương. Quan điểm này trực tiếp chi phối việc đặt tên Đảng, xác định sứ mệnh lãnh đạo, tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất và xây dựng mô hình chính quyền cách mạng.
  2. Mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược "độc lập dân tộc" và "cách mạng ruộng đất": Quá trình nhận thức có sự biến chuyển qua từng giai đoạn lịch sử, khi đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, khi đặt hai nhiệm vụ ngang hàng nhau, hoặc có giai đoạn nhấn mạnh nhiệm vụ cách mạng điền địa.

Quá trình vận dụng lý luận cách mạng vô sản của Quốc tế Cộng sản vào điều kiện một nước thuộc địa đã trải qua những cuộc thảo luận và đấu tranh quan điểm nội bộ. Quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc của Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930 từng chịu sự phê phán và đánh giá không thỏa đáng từ Quốc tế Cộng sản trong những năm 1930. Phải đến giai đoạn 1939-1945, đặc biệt là tại Hội nghị Trung ương tháng 11-1939 và Hội nghị Trung ương tháng 5-1941 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì, sự thay đổi chiến lược mới được hoàn chỉnh. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết là tái hiện một cách hệ thống, toàn diện quá trình nhận thức, điều chỉnh chủ trương và chỉ đạo thực tiễn của Đảng về vấn đề dân tộc trên cả hai mối quan hệ nêu trên, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc 1930-1945, từ đó rút ra nhận xét và các bài học kinh nghiệm lịch sử.

Nhiệm vụ nghiên cứu (được xác định cụ thể trong văn bản):

  1. Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề ra chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng;
  2. Phân tích có hệ thống những chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng và Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam thời kỳ 1930-1945;
  3. Nhận xét quá trình Đảng và Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề dân tộc thời kỳ 1930-1945; rút ra những bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo vận dụng để giải quyết vấn đề dân tộc trong giai đoạn hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Những chủ trương, biện pháp của Đảng trong việc giải quyết vấn đề độc lập dân tộc ở Việt Nam trong quan hệ với hai nước Lào và Campuchia; mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc với cách mạng ruộng đất.
  • Phạm vi nội dung: Vấn đề dân tộc được luận án tiếp cận thuộc phạm trù dân tộc quốc gia (nation), không nghiên cứu vấn đề dân tộc tộc người hay chính sách dân tộc thiểu số.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Việt Nam, đặt trong bối cảnh ba nước Đông Dương.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1930 (khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời) đến năm 1945 (khi giành được chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án phân loại các công trình đã công bố thành 3 nhóm tài liệu chính:

Nhóm tài liệu Các tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung học thuật đã đạt được
Nhóm 1: Vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc (1930-1945) - Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương (1963)
- Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (1994)
- Viện Lịch sử Đảng (1995)
- Trịnh Nhu, Vũ Dương Ninh (1996)
- Võ Nguyên Giáp (chủ biên, 1997)
- Nguyễn Quốc Phẩm, Trịnh Quốc Tuấn (1999)
- Chu Đức Tính (2001)
- Trần Hữu Tiến, Nguyễn Ngọc Long, Nguyễn Xuân Sơn (2002)
- Lê Mậu Hãn (2003, 2005, 2011)
- Phan Ngọc Liên (2008)
- Phạm Hồng Tung (2008, 2013)
- Nguyễn Bá Linh (2009)
- Lê Văn Yên (2009)
- Mạch Quang Thắng (2010)
- Trần Viết Thi (Luận án TS, 2010)
- Song Thành (chủ biên, 2010)
- Trịnh Nhu, Trần Trọng Thơ (2012)
- An-phơ-rét Cô-din-gơ (1985)
Khẳng định đường lối giải phóng dân tộc của Đảng và Hồ Chí Minh là sáng tạo; phân tích sự tương đồng và khác biệt giữa Cương lĩnh chính trị đầu tiên (đầu năm 1930) và Luận cương chính trị (tháng 10-1930); làm rõ mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến trong cách mạng dân tộc dân chủ.
Nhóm 2: Nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc trong quan hệ 3 nước Đông Dương - Nguyễn Tri Thư (1990, 1993)
- Phạm Sang (1993)
- Vũ Quang Hiển (2008, 2009, 2010)
- Hồ Tố Lương (2011)
- Vũ Minh Giang (chủ biên, 2008)
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước riêng biệt; phân tích ý nghĩa của việc thành lập Mặt trận Việt Minh năm 1941 đối với quyền dân tộc tự quyết và việc củng cố liên minh đoàn kết chiến đấu Việt - Miên - Lào.
Nhóm 3: Mối quan hệ giữa Quốc tế Cộng sản, Đảng và Nguyễn Ái Quốc - Đỗ Quang Hưng (1999)
- Hồ Tố Lương (2007, 2008)
- Lê Văn Tích (chủ biên, 2009)
- Mạch Quang Thắng (2010)
- Phan Ngọc Liên (2010)
- Nguyễn Khánh Bật (chủ biên, 2010)
- Sơn Tùng (2007)
- Hoàng Phong (1993)
- Nguyễn Thúy Đức (2010, 2012)
- Nguyễn Quốc Hùng (2011)
- Tác giả quốc tế: Điacốp Xớckin (1960), J. Lacouture (1967), Furuta Motoo (1997), Xôcôlốp (1999), Côbêlép (2000), Sophie Quinn-Judge (2003), Huỳnh Kim Khánh, Hellmut Kapfenberger (2010), Supri Phanomjong (2012), Stein Tønnesson (1991)
Phân tích những đóng góp to lớn của Quốc tế Cộng sản trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đào tạo cán bộ; đồng thời chỉ ra những hạn chế, giáo điều, tả khuynh từ Đại hội VI Quốc tế Cộng sản (1928) dẫn đến việc phê phán đường lối tập hợp lực lượng và chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của Nguyễn Ái Quốc.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Mặc dù các công trình trước đây đã làm sáng tỏ nhiều mặt riêng lẻ, song chưa có một công trình chuyên khảo nào tiếp cận vấn đề dân tộc theo phạm trù dân tộc quốc gia một cách chỉnh thể, đặt trong mối liên hệ hữu cơ giữa quan hệ ba nước Đông Dương và quan hệ giữa hai nhiệm vụ giải phóng dân tộc với cách mạng ruộng đất trong suốt giai đoạn từ 1930 đến 1945. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách phục dựng có hệ thống quá trình chuyển biến nhận thức của Đảng, phân tích rõ tính quy luật và nguyên nhân dẫn đến các điều chỉnh chiến lược.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa (đặc biệt là lý luận về quyền dân tộc tự quyết, mối quan hệ giữa yếu tố dân tộc và giai cấp); Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự do và cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa; các quan điểm, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Khái niệm then chốt: Khái niệm "dân tộc" được luận án sử dụng theo phạm trù quốc gia dân tộc (nation), gắn với quyền độc lập, chủ quyền lãnh thổ, sự cố kết cộng đồng và quyền tự quyết của cộng đồng người cùng chung vận mệnh lịch sử.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử Đảng:

  • Phương pháp lịch sử: Tái hiện các sự kiện, quá trình nhận thức và chỉ đạo của Đảng theo đúng trình tự thời gian, gắn liền với bối cảnh lịch sử cụ thể trong nước và quốc tế.
  • Phương pháp lôgic: Phân tích, trừu tượng hóa các sự kiện lịch sử để làm sáng tỏ bản chất của các chủ trương, quy luật vận động của nhận thức lý luận và nguyên nhân của những điều chỉnh đường lối.
  • Sự kết hợp giữa phương pháp lịch sử và lôgic: Được sử dụng làm phương pháp chủ đạo xuyên suốt các chương.
  • Các phương pháp bổ trợ: Phương pháp phân tích văn bản học (đối chiếu các văn kiện Đảng, chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc), phương pháp so sánh lịch sử và phương pháp tổng hợp.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  1. Các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và phong trào giải phóng thuộc địa.
  2. Bộ Văn kiện Đảng Toàn tập (các tập liên quan giai đoạn 1930-1945) và Hồ Chí Minh Toàn tập.
  3. Các tài liệu, văn kiện, nghị quyết của Quốc tế Cộng sản, các báo cáo lưu trữ lịch sử chính trị - xã hội.
  4. Các công trình nghiên cứu chuyên khảo, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, Tạp chí Lịch sử quân sự, Tạp chí Lý luận chính trị...).
  5. Tư liệu lưu trữ tại các cơ quan lưu trữ của Đảng và Nhà nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài

Chương này dành cho việc rà soát, hệ thống hóa và phân tích thành tựu nghiên cứu của các học giả trong nước và quốc tế theo 3 nhóm vấn đề chính. Tác giả chỉ ra các luận điểm đã được kiểm chứng, đồng thời xác định các luận điểm khoa học mà luận án sẽ đi sâu luận giải, bao gồm:

  • Phân tích bối cảnh ra đời và tác động của các chỉ thị từ Quốc tế Cộng sản đến nhận thức của những người cộng sản Việt Nam đầu những năm 1930.
  • Khảo sát quá trình đấu tranh tư tưởng nội bộ xung quanh việc xác định tên Đảng và nhiệm vụ cách mạng dân tộc/giai cấp.
  • Làm rõ tính tất yếu của quá trình quay trở lại với tư tưởng giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn 1939-1945.

Chương 2: Quá trình nhận thức và chủ trương của Đảng về giải quyết vấn đề dân tộc từ năm 1930 đến năm 1939

Chương 2 phân tích các yếu tố tác động đến nhận thức của Đảng và tiến trình hình thành chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc qua hai giai đoạn cụ thể:

1. Những yếu tố tác động đến việc giải quyết vấn đề dân tộc

  • Lý luận Mác - Lênin và Quốc tế Cộng sản: Khẳng định quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc. Tuy nhiên, Đề cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa tại Đại hội VI Quốc tế Cộng sản (1928) có những nhận định thiên tả: nhấn mạnh thái độ do dự, sẵn sàng thỏa hiệp của giai cấp tư sản bản xứ; đánh giá bấp bênh, dao động về tầng lớp tiểu tư sản, trí thức; quá coi trọng nhiệm vụ cách mạng ruộng đất ngang hàng với chống đế quốc.
  • Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc: Khẳng định mâu thuẫn chủ yếu ở xã hội thuộc địa là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa thực dân xâm lược; xác định "chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước"; trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người xác định lực lượng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân (công nông là gốc cách mạng, tiểu tư sản, học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn).
  • Thực tiễn lịch sử Việt Nam và Đông Dương: Truyền thống chống ngoại xâm và trị thủy đã hun đúc tính cố kết cộng đồng và ý thức chủ quyền quốc gia thống nhất của dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm. Sự thiết lập Liên bang Đông Dương của thực dân Pháp đã làm tổn hại đến tính độc lập của ba quốc gia, áp đặt chính sách chia rẽ nhưng đồng thời làm nảy sinh mối liên minh đấu tranh tự nhiên giữa ba dân tộc chống kẻ thù chung.

2. Hội nghị thành lập Đảng và sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản

  • Tại Hội nghị thành lập Đảng (đầu năm 1930), Nguyễn Ái Quốc chủ trương giương cao ngọn cờ dân tộc, đặt tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, xác định mục tiêu đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến tay sai, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu.
  • Ngày 27-10-1929 và các chỉ thị tiếp theo, Quốc tế Cộng sản yêu cầu thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất ở Đông Dương. Quốc tế Cộng sản phê phán tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam là biểu hiện của tư tưởng cục bộ, hẹp hòi.

3. Giai đoạn 10-1930 đến tháng 3-1935

  • Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 10-1930 thông qua Luận cương chính trị do Trần Phú soạn thảo, đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương, chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi toàn xứ Đông Dương.
  • Luận cương đặt hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến có mối quan hệ khăng khít, nhấn mạnh cách mạng điền địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền. Nhận thức này chịu ảnh hưởng trực tiếp từ đường lối Đại hội VI của Quốc tế Cộng sản.

4. Giai đoạn 1936 - 1939

  • Trước nguy cơ của chủ nghĩa phát xít và chủ trương của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (1935), Đảng thành lập Mặt trận Nhân dân Phản đế Đông Dương (sau đổi thành Mặt trận Dân chủ Đông Dương).
  • Đảng có sự điều chỉnh nhận thức quan trọng: tạm gác khẩu hiệu "đánh đổ đế quốc Pháp" và "tịch thu ruộng đất của giai cấp địa chủ chia cho dân cày", chuyển sang đòi các quyền tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo và hòa bình; tập trung mũi nhọn chống bọn phản động thuộc địa và tay sai.

Chương 3: Chủ trương thay đổi chiến lược và sự chỉ đạo giải quyết vấn đề dân tộc giai đoạn 1939-1945

Chương 3 trình bày quá trình Đảng điều chỉnh chiến lược toàn diện khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ:

1. Chủ trương thay đổi chiến lược (1939 - 1941)

  • Hội nghị Trung ương tháng 11-1939: Nhận định tình thế cách mạng xuất hiện khi chiến tranh bùng nổ; quyết định đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; thành lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Phản đế Đông Dương; chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và tay sai phản bội.
  • Hội nghị Trung ương tháng 5-1941 (Hội nghị Trung ương 8): Dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, Đảng hoàn chỉnh đường lối chuyển hướng chiến lược:
    • Đặt quyền lợi của bộ phận, của giai cấp dưới quyền lợi tối cao của toàn thể dân tộc.
    • Giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Việt Nam, Lào, Campuchia; thực hiện quyền dân tộc tự quyết. Thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh) tại Việt Nam, đồng thời giúp đỡ nhân dân Lào và Campuchia thành lập mặt trận riêng của mỗi nước.
    • Xác định sau khi cách mạng thành công sẽ thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo thể chế dân chủ nhân dân, mang bản chất nhà nước của chung toàn thể dân tộc.

2. Lãnh đạo chuẩn bị lực lượng và tiến hành Tổng khởi nghĩa

  • Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thông qua các hội Cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh.
  • Xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng và căn cứ địa kháng chiến.
  • Phát động toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 khi thời cơ chín muồi, lật đổ ách thống trị của phát xít Nhật và thực dân Pháp, xóa bỏ chế độ quân chủ phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Chương 4: Nhận xét và Kinh nghiệm

1. Nhận xét khoa học của luận án

  • Về tác động của Quốc tế Cộng sản: Chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng trong giai đoạn đầu (1930-1935) chịu sự chi phối nặng nề bởi các quan điểm giáo điều, thiên tả của Quốc tế Cộng sản, chưa sát hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội thuộc địa.
  • Về quá trình đấu tranh tư tưởng: Quá trình hình thành đường lối giải phóng dân tộc là cuộc đấu tranh tư tưởng nội bộ diễn ra kiên trì, từng bước vượt qua các khuôn mẫu giáo điều để vươn lên nhận thức đúng đắn thực tiễn đất nước.
  • Về vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh: Quá trình lịch sử 1930-1945 đã kiểm chứng tính đúng đắn của tư tưởng Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc; khẳng định năng lực tự chủ và sự trưởng thành về bản lĩnh chính trị của Đảng.

2. Các bài học kinh nghiệm lịch sử

Luận án đúc kết 5 bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn:

  1. Xuất phát từ thực tiễn, trên cơ sở thực tiễn Việt Nam để đề ra chủ trương, đường lối cách mạng.
  2. Giương cao ngọn cờ dân tộc, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ (độc lập dân tộc và ruộng đất).
  3. Phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, kiên trì nguyên tắc dựa vào sức mình là chính.
  4. Tôn trọng quyền dân tộc tự quyết và thực hiện tinh thần đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, làm cơ sở phát huy sức mạnh của từng dân tộc và xây dựng liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương.
  5. Tập hợp, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong một Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án chỉ rõ các đóng góp mới về mặt khoa học và tư liệu:

Về mặt khoa học

  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình nhận thức và chỉ đạo của Đảng trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam giai đoạn 1930-1945 theo một chỉnh thể logic khách quan.
  • Làm sáng tỏ quá trình Đảng vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để xử lý hài hòa mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến tại một quốc gia thuộc địa.
  • Phân tích rõ quá trình chuyển dịch mô hình tổ chức chính trị từ phạm vi toàn Đông Dương về khuôn khổ từng quốc gia riêng biệt, khẳng định đây là bước tiến phù hợp với nguyên lý quyền dân tộc tự quyết.
  • Đúc kết các bài học lịch sử có giá trị làm luận cứ khoa học cho việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và xử lý quan hệ đối ngoại trong giai đoạn hiện nay.

Về mặt tư liệu

  • Sưu tầm, thẩm định và hệ thống hóa nhiều nguồn văn kiện, báo cáo lưu trữ lịch sử chính trị của Trung ương Đảng, Quốc tế Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1930-1945.
  • Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại các học viện, viện nghiên cứu và trường đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở phạm trù dân tộc quốc gia (nation), không đi sâu vào vấn đề dân tộc tộc người (ethnic groups) hay chính sách đối với đồng bào các dân tộc thiểu số trong cùng một quốc gia. Đồng thời, nghiên cứu giới hạn mốc thời gian đến tháng 9-1945.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Tiếp tục nghiên cứu việc vận dụng bài học giải quyết vấn đề dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) và chống Mỹ (1954-1975).
    2. Mở rộng nghiên cứu mối quan hệ kết hợp giữa vấn đề độc lập dân tộc quốc gia với việc thực hiện chính sách đại đoàn kết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên: Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Triết học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Sử dụng các luận điểm và nguồn tư liệu lịch sử được hệ thống hóa trong Chương 2, Chương 3 và Chương 4 để biên soạn giáo trình, bài giảng và các công trình chuyên sâu về lịch sử cách mạng Việt Nam.
  • Cơ quan tham mưu, hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử và kinh nghiệm thực tiễn phục vụ công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hoạch định chính sách đối ngoại và củng cố quan hệ hợp tác đặc biệt giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận khái niệm "vấn đề dân tộc" theo góc độ nào?

Luận án tiếp cận vấn đề dân tộc thuần túy theo phạm trù dân tộc quốc gia (nation), tức là cuộc đấu tranh giành độc lập, chủ quyền và quyền tự quyết của toàn thể quốc gia dân tộc Việt Nam trước ách thống trị của thực dân Pháp, không nghiên cứu về vấn đề tộc người hay chính sách đối với các dân tộc thiểu số.

2. Hai mối quan hệ cơ bản mà Đảng phải giải quyết trong vấn đề dân tộc giai đoạn 1930-1945 là gì?

Hai mối quan hệ cốt lõi gồm:

  • Mối quan hệ giữa Việt Nam với Lào và Campuchia: Giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước riêng biệt hay trong phạm vi chung của cả ba nước Đông Dương.
  • Mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược: Nhiệm vụ giải phóng dân tộc (chống đế quốc) và nhiệm vụ cách mạng ruộng đất (chống phong kiến).

3. Vì sao tên gọi "Đảng Cộng sản Việt Nam" tại Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930 bị Quốc tế Cộng sản phê phán?

Quốc tế Cộng sản cho rằng Đông Dương là một xứ thuộc địa chung của Pháp, có đặc điểm kinh tế - xã hội tương đồng nên cần một Đảng Cộng sản duy nhất của toàn Đông Dương. Do thiếu thông tin đầy đủ về lịch sử, văn hóa và địa lý riêng biệt của từng nước, Quốc tế Cộng sản đánh giá việc Nguyễn Ái Quốc đặt tên Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam là biểu hiện của tư tưởng dân tộc hẹp hòi, cô độc và không quán triệt chỉ đạo quốc tế.

4. Bước ngoặt hoàn chỉnh sự thay đổi chiến lược giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng diễn ra tại hội nghị nào?

Sự thay đổi chiến lược được mở đầu tại Hội nghị Trung ương tháng 11-1939 và được hoàn chỉnh dứt khoát tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 5-1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Tại đây, Đảng quyết định đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết, giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước và thành lập Mặt trận Việt Minh.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Chung đã phục dựng toàn diện và khoa học tiến trình Đảng lãnh đạo giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam giai đoạn 1930-1945. Công trình luận giải sâu sắc hai trục quan hệ chiến lược giữa giải phóng dân tộc với cách mạng ruộng đất và giữa phong trào cách mạng Việt Nam với hai nước Lào, Campuchia. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh và năng lực tự chủ của Đảng trong việc hoàn chỉnh đường lối cứu nước, dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đồng thời, hệ thống bài học kinh nghiệm được đúc kết từ luận án mang giá trị tham khảo thiết thực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay.