Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TIÊU DÙNG PHÁT SINH TRONG GIAO DỊCHTHƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khái quát về tranh chấp tiêu dùng phát sinh trong thương mại điện tử 1. Quan hệ tiêu dùng phát sinh từ thương mại điện tử Giao dịch TMĐT còn gọi là giao dịch thương mại trực tuyến bùng nổ từ đầu những năm 1990 gắn chặt với sự ra đời của Internet một cách gọi vắn tắt của trình duyệt WorldWideWeb (www) trình duyệt do Tim Berners-Lee phát minh ra. Ngay sau đó Internet bùng nổ ở khắp các quốc gia và được ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, giáo dục, chính trị, xã hội.[1] Có lẽ một trong các lĩnh vực thay đổi nhiều nhất dưới tác động của Internet chính là các giao dịch thương mại.
Thay vì đến chợ, hoặc các sàn giao dịch truyền thống, một phương thức mới thiết lập thị trường giao dịch (Market Place) ra đời và nhanh chóng được hưởng ứng và dần thay thế các giao dịch truyền thống - đó chính TMĐT. Có nhiều định nghĩa về thương mại điện tử do các tổ chức và các học giả đưa ra theo đó thương mại điện tử được nhìn nhận như là các giao dịch kinh doanh trực tuyến đối với các sản phẩm hoặc dịch vụ.[2] thương mại điện tử chấp nhận “bất cứ hình thức biểu hiện nào của các giao dịch kinh doanh mà trong đó các bên tương tác thông qua các phương tiện điện tử hơn là giao dịch vật chất trực tiếp”.[3] Như vậy thương mại điện tử thường xuyên có liên hệ trực tiếp với việc mua hoặc bán qua mạng Internet hoặc tiến hành bất cứ giao dịch nào bao gồm cả chuyển dịch về quyền sở hữu hoặc các quyền khác thông qua mạng máy tính trung gian.[4] Tuy nhiên, các định nghĩa nói trên 10 chưa chỉ ra được bản chất của phương thức kinh doanh mới này. Theo một cách bao quát nhất, “Thương mại điện tử là việc sử dụng các thông tin liên lạc điện tử và công nghệ xử lý thông tin số trong các giao dịch kinh doanh để tạo ra, biến đổi và xác định lại các mối quan hệ để tạo ra giá trị giữa các tổ chức và giữa các tổ chức và cá nhân”.[5] Tại Khoản 1, Điều 3 của Nghị định 52/NĐ-CP/2013 ban hành ngày 16 tháng 5 năm 2013 về thương mại điện tử, hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam được giải thích là “việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”. Tuy giải thích này còn mang tính gián tiếp nhưng cũng đã phản ánh được bản chất của thương mại điện tử chính là hành vi thương mại được thực hiện thông qua các công cụ và công nghệ điện tử.
Căn cứ vào sự tham gia của các chủ thể trong giao dịch, TMĐT có thể phân loại thành ba nhóm giao dịch cơ bản như: giao dịch giữa các thương nhân với nhau (B2B), giữa thương nhân với người tiêu dùng (B2C), giao dịch giữa người tiêu dùng với nhau (C2C). Qua nghiên cứu và so sánh giữa giao dịch thương mại điện tử và thương mại truyền thống, TS. Phan Thị Thanh Thủy đã đúc kết rằng thương mại điện tử có bốn đặc tính khác biệt so với thương mại truyền thống, cụ thể như sau: (1) Các bên chủ thể trong giao dịch thương mại điện tử không cần tiếp xúc trực tiếp với nhau trong một không gian vật chất, (2) Các giao dịch của thương mại điện tử được thực hiện trên không gian mạng (Cyberspace), do đó thị trường của thương mại điện tử không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia, (3) Có ít nhất ba chủ thể trong giao dịch thương mại điện tử, trong đó nhất thiết phải có nhà cung cấp mạng - tức sàn giao dịch điện tử và (4) Khác với thương mại truyền thống, chính sự trao đổi các thông tin sẽ tạo ra 11 thị trường cho các bên giao dịch. Thay vì trực tiếp đi tìm nhu cầu về hàng hóa dịch vụ, các thương nhân có thể tìm kiếm thông tin từ các nhà cung cấp.
Khái niệm tranh chấp tiêu dùng trong thương mại điện tử 1.1 Tranh chấp tiêu dùng Tranh chấp tiêu dùng là tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân cung cấp hàng hóa dịch vụ trong quá trình mua bán hoặc sử dụng hàng hóa dịch vụ. Tranh chấp tiêu dùng có đặc điểm sau: a. Về chủ thể của tranh chấp: Gồm có hai bên Người tiêu dùng Ở nhiều quốc gia và các khu vực thương mại tự do trên thế giới, người tiêu dùng (NTD) được hiểu là một hay nhiều cá nhân (tự nhiên nhân – natural person) sử dụng hàng hóa dịch vụ không phải cho mục đích kinh doanh hay cho các mục đích chuyên nghiệp (nghề nghiệp) khác. Quan niệm này được chấp nhận rộng rãi ở Liên minh châu Âu (EU),2 Nhật Bản.3 Luật pháp các quốc gia thành viên của ASEAN như Singapore,4 Philipines,5 Malaysia,6 Thailand,7 Indonesia,8 Brunei,9… đều có quan điểm rằng NTD là một hay 2 Xem “Definitions of 'consumer' in EU law ” trong Rafał Mańko, 06/05/2013, The notion of 'consumer' in EU law, Library of the European Parliament, tại http://www.eu/RegData/bibliotheque/briefing/2013/130477/LDM_BRI(2013)130477_REV1 _EN.
3 Article 1(2), The Consumer Contract Act 2000 tại http://www.jp/english/cca/#2 truy cập 18/2/2015. 4 Article 2 (1a), Singapore Consumer Protection (Fair Trading ) Act sửa đổi năm 2009 tại http://www.org/accp/download/Singapore/Consumer%20Protection%20(Fair%20Trading)%2 0Act%202009.pdf , truy cập 10/8/2015. 5 Article 4(n), Consumer Act of the Philippines (Republic Act No. 7394) năm 1992 tại http://www.org/accp/download/Philippines/Republic%20Act%20No.%207394%20- %20The%20Consumer%20Act%20of%201992.pdf , truy cập 10/8/2015.
6 Aticle 1(3a), Consumer Protection Act of Malaysia 1999 tại http://www.org/misc/downloads/misc-msiacpa.pdf, truy cập 10/8/2015. 7 Section 3, Consumer Protection Act 1979 of Thailand tại http://www.org/accp/download/Thailand/The%20Consumer%20Protection%20Act%201979. pdf, truy cập 10/8/2015. 8 Aticle 1(2), Consumer Protection Law of Indonesia 1999 tại http://www.org/accp/download/Indonesia/Consumer%20Protection%20Law%20- %20English.pdf, truy cập 10/8/2015.
Mở rộng hơn, trong luật pháp một số quốc gia khác, như Áo, Đức, Ba Lan…10, Trung Quốc,11 khái niệm NTD còn bao hàm cả các tổ chức, hiệp hội trong những hoàn cảnh nhất định, khi tổ chức, hiệp hội này sử dụng các sản phẩm dịch vụ không phải cho mục đích kinh doanh hoặc các chức năng nghề nghiệp. Tương đồng với quan điểm người tiêu dùng có thể là tổ chức hay cá nhân mua/sử dụng hàng hóa, trong Luật Bảo vệ quyền lợi NTD Việt Nam năm 2010 (Luật BVNTD 2010), tại Khoản 1, Điều 3 “người tiêu dùng” được giải thích là “người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”. Như vậy, cho dù là một, nhiều cá nhân riêng lẻ hay một tập hợp các cá nhân dưới hình thức hộ gia đình hay các tổ chức thì người tiêu dùng theo thông lệ quốc tế và pháp luật Việt Nam đều có các đặc điểm chung như sau: (1) người tiêu dùng là một hoặc nhiều cá nhân hoặc những tổ chức mua hoặc người sử dụng hàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp (NCC) cho mục đích sinh hoạt hoặc tiêu dùng; không phải cho mục đích kinh doanh hay cho các hoạt động mang tính chuyên nghiệp (nghề nghiệp); (2) người tiêu dùng phải trả tiền cho hàng hóa, dịch vụ mình mua để trực tiếp hoặc cho người khác sử dụng.54-55] Thương nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Người kinh doanh hàng hóa dịch vụ trong quan hệ với NTD có thể được gọi bằng nhiều thuật ngữ pháp lý khác nhau như “nhà cung cấp” (supplier), “người bán” (seller), hoặc thương nhân (trader) tùy từng bối cảnh. Chỉ thị của Ủy ban châu Âu số 93/13/EEC ban hành ngày 05 tháng 4 năm 9 Article 2(1), Consumer Protection ( Fair Trading) Order 2011 of Brunei Darussalam tại http://www.org/accp/download/Brunei/Consumer_Protection_Fair_Trading_Order_2011_Br unei_Darussalam.pdf, truy cập 10/8/2015.
10 Rafal Mańko,06/05/2013, The notion of 'consumer' in EU law, Tlđd; tr. 11 Zhixiong Liao, The Recent Amendment to China’s Consumer Law: An Imperfect Improvement and Proposal for Future Changes. Beijing Law Review, số 5/2014. 13 1993 về Các hành vi thiếu công bằng trong các hợp đồng tiêu dùng đã định nghĩa: “nhà cung cấp” hoặc “người bán” là “cá nhân hoặc pháp nhân đang hoạt động vì mục đích liên quan đến hành vi thương mại, kinh doanh hoặc (hành vi) mang tính chất chuyên nghiệp của mình, cho dù ở khu vực thuộc sở hữu công hoặc tư.”12 Tại Hoa Kỳ, nhà cung cấp được định nghĩa là “một cá nhân hoặc nhà kinh doanh trong mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc đem đến một sản phẩm hiện hữu cho khách hàng”.13 Các chuyên gia pháp lý cũng giải thích rõ ràng “người cung cấp có thể là người bán, người sản xuất hoặc bất kỳ ai trong chuỗi cung ứng đang làm cho sản phẩm hiện hữu với khách hàng.”14 Trong khu vực châu Á và ASEAN, khái niệm nhà cung cấp về cơ bản có nhiều điểm tương đồng với cách hiểu về NCC của Hoa Kỳ và châu Âu.15 Luật BVNTD 2010 Việt Nam tuy không dùng các thuật ngữ trên nhưng đã đưa ra khái niệm “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ” và giải thích là “Tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: a)Thương nhân theo quy định của Luật thương mại; b)Cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh.
Có thể thấy, khái niệm này có nội hàm tương tự với khái niệm nhà cung cấp của các quốc gia đã kể trên. Như vậy “nhà cung cấp” là bên thực hiện hành vi cung 12 Directive 93/13, Art. (c)tại Council Directive 93/13/EEC of 5 April 1993 on unfair terms in consumer contracts http://eur-lex.eu/LexUriServ/LexUriServ.do?uri=CELEX:31993L0013:en:HTML. Garner, Black's Law Dictionary 10th ed., Thomson Reuter USA2014, Tlđd.
McDonnell and Elizabeth J. Coleman, Commercial and Consumer Warranties - Drafting, Performing and Litigating 2th ed. 15 Tại Khoản 8 Điều 10 Luật Bảo vệ người tiêu dùng Singapore (Luật Thương mại công bằng) sửa đổi năm 1999, nhà cung cấp được giải thích là “Một người, trong quá trình kinh doanh của người đó: (a) cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng; (b) chế tạo, lắp ráp hoặc sản xuất ra sản phẩm; (c) xúc tiến việc sử dụng hoặc mua bán hàng hóa hoặc dịch vụ; hoặc (d) nhận hoặc đứng danh nghĩa nhận tiền hoặc khoản tiền công khác như một kết quả của sự cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cho người tiêu dùng và bao gồm bất kỳ người làm công hoặc đại lý nào của người đó.” 14 cấp hàng hóa, dịch vụ vì mục đích kinh doanh của mình thông qua một hợp đồng với NTD. Họ có thể là người trực tiếp sản xuất ra hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc chỉ là một khâu trong chuỗi cung ứng sản phẩm hướng đến người tiêu dùng.