Chương 1: Khái quát về giải quyết tranh chấp phát sinh trong giao dịch thương mại điện tử và pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh trong giao dịch thương mại điện tử Chương 2: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp phát sinh trong giao dịch thương mại điện tử và thực tiễn thực hiện pháp luật tại Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp phát sinh trong giao dịch thương mại điện tử nhằm phát triển thuận lợi thương mại số tại Việt Nam NỘI DUNG CHUONG 1: KHAI QUAT VE GIAI QUYET TRANH CHAP PHAT SINH TRONG GIAO DỊCH THUONG MẠI ĐIỆN TU VA PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHAP PHÁT SINH TRONG GIAO DỊCH THUONG MẠI ĐIỆN TU 1. Khái quát về giải quyết tranh chấp phát sinh trong giao dịch thương mại điện tử 1. Khái niệm thương mại điện tử và giao dịch thương mại điện tử 1. Khái niệm thương mại điện tử Nhìn vào lịch sử hình thành và phát triển của thương mại điện tử, có thê thấy hình thức này được định nghĩa khác nhau theo từng giai đoạn.
Vào năm 1979, Michael Aldrich đã phát minh ra một hệ thống trực tuyến giúp kết nối khách hàng với các doanh nghiệp nhằm phục vụ cho việc mua sắm bằng cách kết nối TV (sau khi nâng cấp) với máy tính bằng đường đây điện thoại của mình. Dù còn khá sơ khai và đắt đỏ nhưng đây được xem là công nghệ nền tảng của thương mại điện tử ngày nay. Ở thời kỳ đầu, thương mại điện tử chủ yếu bao gồm các hoạt động trao đổi dữ liệu điện tử (Electronic Data Interchange - EDI) và Chuyên tiền điện tử (Electronic Funds Transfer - EFT) cho phép doanh nghiệp gửi các hợp đồng điện tử như don đặt hang hay hóa đơn điện tử, quản lý chuỗi dây chuyền cung ứng hay một dạng khác là hệ thống đặt vé máy bay của các công ty du lịch tại Mĩ và Anh. Nhờ sự đột phá của Internet cũng như sự phổ biến của máy tính mà chi trong vai năm ngắn ngủi, thương mại điện tử đã phát triển và được nhiều người biết đến hơn.
Giờ đây, người ta bắt đầu nhìn nhận rõ nét hơn về thương mại điện tử, là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ có sẵn qua Internet băng cách sử dụng các dịch vụ thanh toán điện tử được bảo đảm bởi hệ thống kết nối an toàn. Với vai trò là loại hình thương mại ra đời từ sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, thương mại điện tử là đối tượng nghiên cứu của của nhiều ngành như kinh tế, công nghệ thông tin và pháp lý dẫn đến tồn tại nhiều quan điểm về khái niệm thương mại điện tử phù hợp với từng chuyên ngành. Tuy nhiên có thê khái quát lại thành hai cách tiếp cận chính: thương mại điện tử hiểu theo nghĩa rộng và thương mại điện tử hiểu theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, thương mại điện tử được hiểu là bất kỳ hoạt động có “tính chất thương mại” nào được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn thông qua Internet.
Đây là cách tiếp cận của một số tổ chức quốc tế như Ủy ban liên hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL), Ủy ban Châu Âu. Theo đó thương mại điện tử không chỉ là một phần của hoạt động thương mại mà là các hoạt động sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiễn thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác. Những hoạt động này được thực hiện qua các phương tiện điện tử có kết nối Internet, mạng viễn thông hoặc bất kỳ một mạng mở nào khác có thê kế đến như điện thoại, fax, telex,. Có thể thấy phạm vi áp dụng của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực kinh tế và trao đôi hàng hóa chỉ là một trong số đó; đồng thời các hoạt động này được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử kết nối mạng mở chứ không giới hạn bởi Internet.
Cách hiểu này đã gần như phản ánh được toàn bộ quá trình hình thành phát triển cũng như đặc điểm của thương mại điện tử. Theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử được định nghĩa là “hoạt động mua ban hang hóa, dich vụ thông qua các dịch vụ tiêu dùng trực tuyến trên Internef°.^ Theo cách tiếp cận này thì thương mại điện tử chỉ giới hạn ở những hoạt động thương mại như mua bán hàng hóa, cung cấp và sử dụng dịch vụ thông qua Internet mà loại bỏ các phương tiện khác như fax, điện thoại,. Như vậy theo quan điểm này thương mại điện tử chủ yếu thê hiện qua các giao dịch giữa thương nhân với khách hàng với hình thức thanh toán điện tử thông qua Internet. Một số tổ chức quốc tế đã tiếp cận thương mại điện tử theo nghĩa hẹp là WTO, OECD.
Tại Việt Nam, các văn bản pháp luật quy định trực tiếp về thương mại điện tử là Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 của Chính phủ về thương mại điện tử (sau đây gọi là Nghị định 52/2013/NĐ-CP) và Nghị định số 85/2021/ND- CP ngày 25 tháng 9 năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bỗ sung một số điều của Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử (sau đây gọi là Nghị định 85/2021/ND- 3 Phí Mạnh Cường (2022), Pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam, luận án tiễn sĩ, trường đại học Luật Hà Nội, tr. 52 * Phí Mạnh Cường (2022), tlđd số 3, tr.54 10 CP) không đưa ra định nghĩa cụ thé của “thương mại điện tử” mà chi đề cập đến khái niệm hoạt động thương mại điện tử. Cụ thé, khoản 1 Điều 3 Nghị định 52/2013/ND- CP quy định: “ Hoạt động thương mại điện tử là việc tiễn hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động”. Trong đó “hoạ động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gom mua ban hang hoa, cung ung dich vu, ddu tu, xúc tién thuong mai va cac hoat dong nhằm mục dich sinh lợi khác”.
Định nghĩa này đã tiếp cận thương mại điện tử theo nghĩa rộng do đó mang tính khái quát cao, phản ánh được bản chất thương mại điện tử là hành vi thương mại được thực hiện qua các công cụ và công nghệ điện tử. Tuy nhiên, khi nhìn vào quy định về các hình thức tô chức hoạt động thương mại điện tử tại Điều 25 Nghị định này thì đều là các hoạt động thương mại điện tử thực hiện thông qua Internet. Ngoài ra, trong các báo cáo, thống kê của Cục thương mại điện tử và kinh tế số thuộc Bộ Công thương hay Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam cũng chỉ đề cập đến hai hình thức thương mại điện tử trên nền tảng website và thương mại điện tử trên nền tang di động (website phiên bản di động và ứng dụng di động). Kết hợp với tình hình thực tế là thị trường thương mại điện tử Việt Nam còn non trẻ và diễn ra chủ yêu trên nền tảng Internet, tác giả nhận thấy pháp luật nước ta hiện đang thiên về tiếp cận thương mại điện tử theo nghĩa hẹp.
Tóm lại, dù được tiếp cận theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp thì trên thực tế, hoạt động thương mại điện tử thê hiện chủ yếu dưới hình thức các hoạt động thương mại diễn ra thông qua nền tảng Internet. Đồng thời không thé phủ nhận rang sự phát triển của thương mại điện tử gắn liền với Internet và các công nghệ điện tử liên quan. Cũng chính bởi yêu tố “điện tử” nên thương mại điện tử dù mang những đặc điểm của thương mại truyền thống nhưng vẫn có những đặc trưng riêng. Mot là, chủ thé tham gia thương mại điện tử ngoài các chủ thể tham gia thương mại truyền thống là người tiêu dùng, doanh nghiệp và Chính phủ thì xuất hiện bên trung gian là các nhà cung cấp dịch vụ, tô chứng thực tạo điều kiện cho thương mại điện tử diễn ra một cách thuận lợi và an toàn.
Hai là, trong thương mại điện tử thị trường là mạng lưới thông tin. Khác với thương mại truyền thống khi thông tin chỉ là phương tiện trao đổi dữ liệu thì mạng lưới thông tin trong thương mại điện tử chính là thị trường, nơi diễn ra các giao dịch II thương mại điện tử. Các website như Google, Amazon hay các mạng xã hội đóng vai trò như trang web gốc với các thông tin về sản phẩm, dịch vụ cung như các gian hàng “ảo” cho phép người tiêu dùng thực hiện mua bán, thanh toán thông qua thao tác trên thiết bị điện tử kết nỗi mạng. Các chủ cửa hàng, doanh nghiệp cũng cạnh tranh bằng cách đưa ra những thông tin dưới dạng hình ảnh, video, giao điện nhằm tiếp cận và khơi gợi nhu cầu mua sắm của người dùng.
Ba là, thương mại điện tử đã khiến ranh giới truyền thống giữa các linh vực kinh doanh vốn phụ thuộc vào đặc tính của sản phẩm, dịch vụ cũng như phương tiện phân phối được gỡ bỏ. Bởi các chủ thé tham gia thương mại điện tử không cần trực tiếp gặp mặt, các hoạt động như tìm kiếm bạn hàng, trao đổi, giới thiệu sản phẩm, giao kết hợp đồng đến chăm sóc khách hàng đều được thực hiện trực tuyến bất kể ngày đêm thông qua mạng toàn cầu. Giờ đây với những ứng dụng cung cấp dịch vụ thương mại điện tử, người dùng có thê vừa đặt quân áo từ kho hàng tại Trung Quốc vừa lựa chọn vi trà sữa yêu thích với vài cú click chuột hay thao tác trên màn hình smartphone tại bất cứ nơi nào có kết nối Internet. Bốn là, thị trường trong thương mại điện tử có tính chất phi biên giới.
Bởi như đã đề cập, nền tảng của thương mại điện tử là Internet - một mạng kết nối toàn cầu cho phép các thương nhân, doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập thực hiện công việc kinh doanh ở các quốc gia trên thé giới mà không phải chịu rào cản lớn từ vị trí dia lý, nguồn nhân lực cũng như tiềm lực tài chính khi tham gia thị trường mới. Khái niệm giao dịch thương mại điện tử Tổ chức Hop tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa giao dịch thương mại điện tử theo nghĩa rộng là “việc mua ban hàng hóa, dich vụ giữa doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cả nhân, chính phủ và các tổ chức công hoặc tổ chức tu nhân khác, được thực qua mạng máy tính trung gian. Trong đó hàng hóa và dịch vụ được mua bán thông qua những mạng này, tuy nhiên việc thanh toán và việc vận chuyển hàng hóa tại khâu cuối Cùng co thể được thực hiện trực tuyến hoặc truc tiếp”.