CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của thương mại điện 1. Khái niệm thương mai điện tử Ra đời cách đây hàng chục năm, cho đến thời điểm hiện tại, hoạt động thương mại điện tử đã được hoàn chỉnh từng bước và được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong thực tiễn trên thế giới. Dé hiểu thé nào là thương mại điện tử, trước hết, cần phải có cái nhìn tổng quan về các khái niệm sau đây: Thương mại điện tử (Tiếng Anh gọi là Electronic commerce, viết tắt là E- commerce), hay còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như: “thương mại trực tuyến” (online trade), “thương mai phi giấy tờ” (paperless commerce), “thương mại điều khiến học” (cyber trade).
Nhưng khi nói đến “thương mại điện fứ” là một khái niệm tương đối mới trong thực tiễn kinh doanh hiện nay, quan điểm về nội hàm của thương mại điện tử cũng có sự thay đổi theo thời gian. Cùng với sự phát triển của nó, nhiều nhà quản lý cũng như các nhà khoa học hiểu khái niệm này theo hai nghĩa phố biến như sau: * Thương mại điện tử (theo nghĩa hẹp): Theo cách hiểu này, thương mại điện tử (TMĐT) chỉ đơn thuần bó hẹp TMĐT trong việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là qua Internet và các mạng viễn thông. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ”7ÄĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hang và phân phối sản phẩm được mua bản và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mang Internet". Theo Ủy ban TMDT của Tổ chức Hợp tác Kinh tế Chau A - Thái Bình Duong (APEC), "TMPT là công việc kinh doanh được tiễn hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật so".
TMDT theo nghia hep chi bao gom những hoạt động thương mai được thực hiện thông qua mạng Internet mà không tính đến các phương tiện điện tử khác, như điện thoại, fax, telex.Nếu chỉ hiểu theo cách này, TMDT sẽ bị han chế trong phạm vi giao dich với khách hàng và thực hiện thanh toán thông qua Internet. * Thương mại điện tử (theo nghĩa rộng): Có hai định nghĩa khái quát được đầy đủ nhất phạm vi hoạt động của TMDT: Luật mẫu về TMĐT của Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thuong mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: "Thudt ngữ thương mai [commerce] can được diễn giải theo nghĩa rộng dé bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tinh chất thương mại dit có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tinh thương mại bao gồm, nhưng không giới hạn ở các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, ủy thác hoa hông (factoring), cho thuê dài han (leasing); xây dung các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); dau tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ". Theo định nghĩa này, có thể thấy phạm vi điều chỉnh của Luật mẫu UNCITRAL là mọi hoạt động thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu và trong khuôn khô các hoạt động thương mại.
Thông điệp dữ liệu là “?hông tin được tao ra, gửi di, tiếp nhận, hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học hoặc các phương tiện tương tự, nhưng chỉ bao gom trao đổi dữ liệu điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo hoặc fax” theo Điều 2 của Luật mẫu UNCITRAL. Như vậy có, thể thấy phạm vi hoạt động của TMĐT rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh té, trong đó hoạt động mua ban hàng hóa va dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong TMĐT. Theo Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử (1996) thương mại điện tử là việc sử dung “/hông tin dưới dang một thông điệp dir liệu trong khuôn khổ các hoạt động thương mai” (Điều 1). Theo Ủy ban châu Âu: "TMPT được hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua các phương tiện điện tứ.
Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dưới dang text, âm thanh và hình ảnh. Thương mại điện tử gom nhiễu hành vi trong đó có hoạt động mua bán hàng hoá qua phương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện tử, mua bán cổ phiếu điện tử, van đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết kế, tài nguyên mang, mua sam công cộng, tiếp thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bản hàng (hậu mãi). Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mại hàng hoá (như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (như cung cấp dịch vụ thông tin, dịch vụ pháp lý, ngân hàng) và các hoạt động truyền thong (như giáo duc, chăm sóc sức khoẻ) và các hoạt động mua sắm (như siêu thị do)". Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm về TMĐT như sau: “Thuong mại điện tử được định nghĩa sơ bộ là các giao dịch thương mai dựa trên truyền dữ liệu qua các mạng truyền thông như Internet ”.! Như vậy, ta có thé thay được khái niệm thương mai điện tử được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau; nhưng chung quy chỉ có hai cách hiểu về thương mại điện tử là theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp.
Với cách hiểu theo nghĩa rộng thì thương mại điện tử có khả năng áp dụng rộng và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của nén kinh tế. Trên thực tế, thương mại điện tử thực chất đã phát sinh từ lâu thông qua các phương tiện như: điện thoạt, fax, telex.Còn đối với cách hiểu theo nghĩa hẹp thì thương mại điện tử đơn giản là hoạt động gắn liền với Internet. Xét dưới góc độ luật của Việt Nam thì thương mại điện tử được xác định dưới góc độ như sau: Luật Giao dịch Điện tử năm 2005 đưa ra khái niệm giao dich điện tử trong khoản 6, Điều 4, như sau: “Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử”. Điều 4, khoản 10 quy định: “phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện tử, kỹ thuật số, từ tính truyền dan không dây, quang học, điện tử hoặc công nghệ tương tự”.
Thông qua khái niệm này có thé thấy phạm vi điều chỉnh của Luật Giao dịch Điện tử (2005) là rất rộng, bao gôm nhiêu lĩnh vực, như thương mại, dân sự, quản lý nhà nước. ! Xem: Nguyễn Thi Mơ (2006), Cam nang pháp luật về giao kết hợp đồng điện tử, Nxb. Lao động — Xã hội, Hà Nội. ? Theo khoản 10 điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005.
Qua khái niệm này có thể thấy rằng Luật Giao dịch Điện tử (2005) có cách tiếp cận theo nghĩa rộng; điều đó tạo điều kiện cho khả năng áp dụng vào thực tiễn rat lớn. Đặc biệt, trong bối cảnh công nghệ thông tin đang bùng nổ như hiện nay, ta càng thấy rõ thương mại điện tử dang trở thành một cuộc cách mạng làm thay đôi cách thức mua sắm của con người. Tuy nhiên, xét cho cùng, thương mại điện tử theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp cũng chỉ là mang tính tương đối. Thực tế cho thấy Internet mới là động lực thúc day sự phát trién mạnh mẽ loại hình thương mại này.
Thương mại điện tử chỉ có thể xảy ra trong môi trường kinh doanh qua Internet và các phương tiện điện tử giữa các nhóm người tham gia thông qua các công cụ kỹ thuật và công nghệ thông tin. Từ những phân tích trên có thé đưa ra khái niệm thương mại điện tử như sau: “Tương mại điện tử là việc thực hiện một phần hoặc toàn bộ các bước của hoạt động thương mại điện tử bằng cách truyền thông tin dưới dạng thông điệp dữ liệu, các thông điệp này được kết nối Internet, mạng viên thông di động và các mạng mở khác. Đặc điểm của thương mại điện tử So sánh với hoạt động thương mại truyền thống thì hoạt động thương mại điện tử có một số đặc điểm khác biệt cơ bản như sau: Thứ nhát, trong thương mại điện tử, các bên giao dịch không tiếp xúc trực tiếp và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước. Trong hoạt động thương mại truyền thống, các bên thường gặp nhau trực tiếp dé tiễn hành giao dịch.
Các giao dịch được thực hiện dựa trên nguyên tắc vật lý, như chuyển tiền, séc, hoá đơn, vận đơn, gửi báo cáo. Các phương tiện viễn thông như: telex, fax.chỉ được sử dụng dé trao đôi số liệu kinh doanh. Việc sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống chỉ để chuyên tải thông tin một cách trực tiếp giữa hai đôi tác của cùng một giao dịch. Xem: Phạm Thị Quỳnh (2015), Pháp luật quản lý nhà nước đối với thương mại điện tử, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
Trong khi đó, thương mại điện tử cho phép mọi người (từ các vùng cao, hải đảo xa xôi đến những khu đô thị lớn) cùng tham gia, hay cũng có thê kết nói với đối tác từ các đất nước khác. Điều đó tạo cơ hội cho mọi người 0 khắp nơi đều có thê kết nối tham gia bình dang như nhau vào thị trường giao dịch toàn cầu. Việc này cũng không đòi hỏi họ nhất thiết phải có mối quan hệ quen biết nhau từ trước. Thứ hai, trong hoạt động thương mại truyền thong có su tồn tai khái niệm “biên giới quốc gia” thì trong thương mại điện tử, người ta hoạt động ở môi trường “không biên giới”; đó là thị trường mở hay còn gọi thị trường toàn cau.
Chính vì lẽ đó mà thương mại điện tử tác động trực tiếp môi trường cạnh tranh toàn cầu. Thương mại điện tử càng phát triển thì nhu cầu sử dụng máy tính cá nhân trở thành yếu tô không thiếu được đối với các doanh nghiệp định hướng tham gia thị trường quốc tế. Với thương mại điện tử, doanh nghiệp (cho dù mới thành lập) đều có thé tham gia vào thị trường toàn cầu (ví dụ như với Anh, Nhật Bản.) mà không hề phải bước ra khỏi đất nước. Điều đó khác hăn với việc thực hiện mở rộng thị trường thương mại truyền thống như trước kia.