Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 1. CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN Chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 là hình thức chế độ cộng đồng tạo sản, theo đó, tài sản mà vợ chồng có đƣợc trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Ngoài ra, trong một số trƣờng hợp, vợ chồng còn có quyền có tài sản riêng. Việc quy định về quan hệ tài sản giữa vợ chồng và xác định tài sản chung, tài sản riêng của một bên vợ, chồng là căn cứ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ chồng trong gia đình, đồng thời là cơ sở giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng Một trong những yếu tố quan trọng nhất để cuộc sống chung của vợ chồng đƣợc tồn tại là việc tạo lập tài sản để nuôi sống gia đình. Việc xác định tài sản chung của vợ chồng đƣợc các nhà làm luật quan tâm và quy định tƣơng đối đầy đủ, cụ thể trong các văn bản pháp luật có liên quan, đảm bảo việc áp dụng vào thực tiễn đƣợc thuận lợi hơn so với Luật HN&GĐ năm 1986. Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chung của vợ chồng.
Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất”. Nhƣ vậy, căn cứ để xác định tài sản chung của vợ chồng dựa trên hai cơ sở là “thời kỳ hôn nhân” và “nguồn gốc tài sản”. “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân” (khoản 7 điều 8 Luật HN&GĐ 2000).
Việc xác định tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn sẽ đƣợc tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày phán quyết ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đƣợc tạo thành từ các nguồn gốc sau: - Những tài sản do vợ chồng tạo ra: Hành vi tạo ra tài sản là một trong những chức năng chính để nuôi sống gia đình. Sau khi kết hôn, vợ chồng cùng chung sức trong việc tạo lập tài sản để duy trì cuộc sống và đảm bảo cho gia đình tồn tại. Hành vi tạo ra tài sản là việc vợ chồng tạo ra tài sản bằng chính sức lao động của mình dựa trên công việc, chuyên môn của mình.
Vợ chồng có thể trực tiếp tạo ra tài sản nhƣ gieo mạ lấy thóc, nuôi cá, đóng giƣờng, tủ … hoặc thông qua các hợp đồng cụ thể với ngƣời khác nhƣ mua nhà, xe… nhằm đảm bảo các nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của gia đình. Những tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Pháp luật nƣớc ta dƣới chế độ cũ cũng quy định những tài sản do vợ chồng “tạo mãi” trong thời gian hôn thú sẽ thuộc tài sản chung của vợ chồng. - Các thu nhập hợp pháp của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: Thu nhập là việc nhận đƣợc tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động nào đó.
Thu nhập hợp pháp của vợ chồng là việc hƣởng thành quả lao động 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com do tham gia lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh theo tính chất nghề nghiệp, công việc, chuyên môn mà vợ chồng thực hiện. Tài sản chung từ thu nhập hợp pháp của vợ chồng thƣờng là tiền lƣơng, tiền công lao động, tài sản thu đƣợc qua hoạt động sản xuất nhƣ trồng trọt, chăn nuôi…, lợi nhuận thu đƣợc thông qua hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm các khoản thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể là tiền thƣởng, tiền trợ cấp, tiền trúng sổ xố mà vợ, chồng có đƣợc hoặc những tài sản mà vợ chồng đƣợc xác lập quyền sở hữu theo quy định của BLDS đối với vật vô chủ, vật không xác định đƣợc ai là chủ sở hữu (Điều 239); đối với vật bị chôn giấu, bị chìm đắm đƣợc tìm thấy (Điều 240); đối với vật do ngƣời khác đánh rơi, bị bỏ quên (Điều 241); đối với gia súc, gia cầm bị thất lạc (Điều 242, 243); đối với vật nuôi dƣới nƣớc (Điều 244) … trong thời kỳ hôn nhân [32].
Đặc điểm của loại tài sản này là không có yếu tố đền bù khi xác lập quyền sở hữu và không do vợ chồng trực tiếp quản lý trƣớc khi xác lập sở hữu. - Những tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung Việc xác lập loại tài sản này phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu hoặc do pháp luật quy định về thừa kế. Khi xác lập hợp đồng tặng cho chung hoặc di chúc để lại tài sản chung cho vợ chồng, chủ sở hữu không có sự phân biệt kỷ phần cho mỗi bên vợ, chồng đƣợc hƣởng. Nếu có sự xác định tỷ lệ tài sản cho mỗi bên vợ, chồng thì phần tài sản đó sẽ thuộc tài sản riêng của mỗi bên theo tỷ lệ đƣợc thừa kế, tặng cho.
Trong trƣờng hợp ngƣời tặng cho vợ chồng tài sản hoặc để lại tài sản theo di chúc cho vợ chồng mà định đoạt trƣớc phần quyền sở hữu của mỗi bên vợ chồng đối với khối tài sản đó thì khối tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng, nhƣng là tài sản chung theo phần. Trƣờng hợp chủ sở hữu tuyên bố cho chung hai vợ chồng nhƣng lại xác 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định kỷ phần cho mỗi bên vợ, chồng đƣợc hƣởng hoặc vợ, chồng cùng hàng thừa kế theo pháp luật, hai bên vợ chồng đƣợc hƣởng theo suất bằng nhau thì về nguyên tắc, phần tài sản mà mỗi bên đƣợc hƣởng là tài sản riêng và chỉ thuộc tài sản chung khi vợ, chồng tự nguyện nhập vào tài sản chung hoặc có thỏa thuận tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng. “Trƣờng hợp vợ chồng cùng hàng thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế thì tài sản đƣợc thừa kế “theo hàng thừa kế” đó thuộc tài sản riêng của vợ, chồng; chỉ là tài sản chung khi vợ chồng tự nguyện nhập vào tài sản chung hoặc có thỏa thuận là tài sản chung của vợ chồng” [10, tr. - Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn Đất đai là một loại tài sản đặc biệt thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc thống nhất quản lý.
Quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản đƣợc pháp luật công nhận và bảo vệ. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có đƣợc sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Nghị định 70/CP quy định: + Sau khi kết hôn, quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc mỗi bên vợ hoặc chồng đƣợc Nhà nƣớc giao, kể cả giao khoán là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất này có thể là đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối; đất nông nghiệp để trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở đƣợc Nhà nƣớc giao, đất chuyên dùng.
+ Sau khi kết hôn, quyền sử dụng đất mà cả vợ và chồng hoặc chỉ một bên vợ hoặc chồng đƣợc Nhà nƣớc cho thuê là tài sản chung của vợ chồng. + Đối với quyền sử dụng đất do vợ chồng đƣợc chuyển đổi, chuyển nhƣợng, thừa kế chung thì đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 95 Luật HN&GĐ. + Trƣờng hợp vợ chồng nhận thế chấp quyền sử dụng đất của ngƣời thứ ba thì quyền nhận thế chấp đất cũng thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Nhƣ vậy, quyền sử dụng đất mà vợ chồng có đƣợc sau khi kết hôn do 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đƣợc Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất, đƣợc chuyển đổi, chuyển nhƣợng hoặc thừa kế chung từ ngƣời khác thì đó là tài sản chung của vợ chồng.
Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có đƣợc trƣớc khi kết hôn, đƣợc thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận. - Những tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; những tài sản không đủ chứng cứ xác định là tài sản riêng. Để xây dựng một gia đình hạnh phúc, bền vững thì việc phát triển kinh tế, tạo lập tài sản của vợ chồng đƣợc các bên chú trọng. Khi tình cảm vợ chồng còn mặn nồng, việc xác định rạch ròi tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của mỗi bên ít đƣợc quan tâm, coi trọng.
Vợ chồng thƣờng có xu hƣớng sử dụng các tài sản có đƣợc vào mục đích chung của gia đình, giới hạn giữa tài sản chung và riêng không có sự phân biệt rõ ràng. Các bên thƣờng có xu hƣớng nhập phần tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm đảm bảo đời sống của gia đình. Pháp luật ghi nhận việc thỏa thuận của các bên trên nguyên tắc quyền tự định đoạt của mỗi đƣơng sự, giữa vợ và chồng có thể thỏa thuận tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng và tài sản nào là tài sản riêng của vợ, chồng. Việc nhập hay không nhập tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng vào khối tài sản chung của vợ chồng có thể mặc nhiên hoặc đƣợc thỏa thuận bằng văn bản.
Một khi vợ chồng có mâu thuẫn về tình cảm thì yếu tố tài sản cũng đƣợc các bên đem ra so đo, tính toán với nhau. Do tính chất phức tạp của quan hệ tài sản mà việc xác định đâu là tài sản chung của vợ chồng và đâu là tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng gặp nhiều khó khăn.