Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về giải quyết tranh chấp tài sản đầu tư chung của vợ chồng khi ly hôn 7 - Chương 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp tài sản đầu tư chung của vợ chồng khi ly hôn. Thực tiễn xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội. - Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp tài sản đầu tư chung của vợ chồng khi ly hôn. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TÀI SẢN ĐẦU TƯ CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 1.
Khái quát về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 1. Khái niệm về tài sản đầu tư chung Hiện nay, cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thì Gia đình được xem là tế bào của xã hội. Đây là nơi xuất hiện và duy trì các mối quan hệ về huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng. Nhận thức được vai trò của Gia đình trong sự phát triển xã hội cũng như thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề này nên việc xây dựng trên một nền tảng cơ sở pháp lý nhất định là điều vô cùng cần thiết.
Việc tham gia vào các quan hệ Dân sự nói chung mang tính mở rộng đã và đang đưa các chủ thể trong các quan hệ được ràng buộc bằng các quy định pháp lý được thể hiện bằng các quy định rõ ràng, cụ thể. Quan hệ hôn nhân giữa vợ - chồng là một mối quan hệ được pháp luật Dân sự theo nghĩa rộng quy định rõ ràng. Những quy định liên quan đến quan hệ vợ- chồng nói chung được pháp luật quy định rất chặt chẽ. Trong đó có quan hệ về giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn đã được BLDS, Luật Hôn nhân và Gia đình cũng như các văn bản pháp lý có liên quan điều chỉnh một cách chi tiết nhằm áp dụng trong thực tiễn một cách có hiệu quả.
Tại một số quốc gia trên thế giới thì sự đề cao quyền tự do cá nhân, tự do thỏa thuận và quyền tự do định đoạt của các chủ thể trong quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt là trong quan hệ giữa vợ và chồng là đặc trưng cơ bản. Có thể xem rằng hôn nhân là một loại “hợp đồng dân sự đặc biệt”. Với quan niệm trên, một số quốc gia trên thế giới đã đề cao quyền tự do cá nhân, đặc biệt là có những vấn đề có liên quan của tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Hôn nhân theo pháp luật của các nước phương Tây là sự thỏa thuận bằng văn bản do vợ chồng lập trước khi kết hôn để quy định chế độ tài sản của vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân.
Nội dung của hôn ước thường xác định tài sản của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản đó cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa họ với người thứ ba. 9 Vợ chồng có thế thỏa thuận trên cơ sở lựa chọn theo một chế độ tài sản riêng biệt, hoàn toàn độc lập với chế độ tài sản theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo đó việc phân định tài sản sau khi ly hôn được giải quyết theo những điều khoản được quy định trong hợp đồng này. Nếu hợp đồng không quy định thì mới vận dụng đến những quy định của pháp luật, điều này càng khẳng định trong giải quyết tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng nói chung và tài sản đầu tư chung của vợ chồng nói riêng theo quy định pháp luật hiện nay.
Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng phát sinh, tồn tại cùng với sự phát sinh và tồn tại của quan hệ hôn nhân. Tài sản của vợ chồng là một phạm trù pháp lý gắn với quyền sở hữu của vợ chồng. Xuất phát từ tính chất của quan hệ hôn nhân là cùng chung ý chí, chung công sức trong việc xây dựng gia đình, đảm bảo cho gia đình thực hiện tốt các chức năng xã hội của nó như: chăm sóc, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, phát triển kinh tế… nên pháp luật quy định giữa vợ chồng phát sinh tài sản thuộc sở hữu chung. Tài sản chung của vợ chồng nói chung và tài sản đầu tư chung nói riêng dùng để đáp ứng các nhu cầu chung của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ tài sản chung của vợ chồng.
Theo quy định của BLDS và Luật HN&GĐ thì sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất. Sự đóng góp công sức của vợ chồng vào việc xây dựng khối tài sản chung có thể không ngang nhau nhưng quyền sở hữu của họ đối với tài sản chung vẫn ngang nhau. Tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải do công sức của cả hai vợ chồng mà có thể chỉ do vợ hoặc chồng làm ra hoặc là thu nhập hợp pháp của một trong hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Ở Việt Nam, tài sản được hiểu là của cải, vật chất dùng vào mục đích sản xuất và tiêu dùng. Theo điều 163 BLDS 2005 thì quy định tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Trước những thay đổi của tình hình kinh tế - xã hội thì theo quy định tại điều 105 BLDS 2015 quy định tài sản: “1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” Trong quan hệ vợ chồng được pháp luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh thì việc chia tài sản khi ly hôn được thực hiện trên tài sản chung của vợ và chồng.
Quy định về nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn được hiểu là việc áp dụng những quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi của các chủ thể trong vấn đề giải quyết vấn đề về tài sản khi kết thúc quan hệ hôn nhân trên mặt pháp lý. Tài sản đầu tư hay tài sản vốn (capital assets) là tài sản hiện vật và tài sản tài chính không được mua hoặc bán trong hoạt động kinh doanh hàng ngày, chẳng hạn nhà xưởng, máy móc, thiết bị, xe cộ hoặc hàng tồn kho1. Hiện nay chưa có một khái niệm pháp lý nào về tài sản đầu tư chung. Tuy nhiên hiện nay, pháp luật quy định về chế độ tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với các tài sản đó trong thời kỳ hôn nhân.
Trên cơ sở khái niệm đó, tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm đối với vấn đề này như sau: “Tài sản đầu tư chung được hiểu là tài sản là vật, tiền, giấy tớ có giá hoặc quyền tài sản chung của vợ hoặc chồng được đưa vào quá trình đầu tư kinh doanh để sản sinh ra hoa lợi, lợi tức. Như vậy, tài sản Hiện nay, cùng với sự phát triển của xã hội thì hoạt động kinh doanh ngày càng diễn ra phổ biến và năng động hơn. Để tiến hành hoạt động kinh doanh đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải có khả năng huy động vốn tối ưu. Một trong những nguồn vốn có thể tận dụng được chính được xem là tài sản chung của vợ chồng.
Hiện nay, Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng2 và quy định của Điều 36 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định tài sản chung được đưa vào kinh doanh: “Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản.”3 1 Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân 2 Xem Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 3 Xem Điều 36 Luật HN&GĐ năm 2014 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xác định việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung vợ chồng phải do vợ chồng thỏa thuận. Hiện nay, vấn đề tài sản của vợ chồng được đưa vào kinh doanh nói chung và tài sản đầu tư của vợ chồng cần được xác định một cách cụ thể và hiệu quả. Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng hiện quy định về tài sản đầu tư chưa được quy định cụ thể và hợp lý, vấn đề chia như nào và ai là người đại diện trong các loại hình doanh nghiệp chưa được quy định cụ thể.
Với khái niệm tác giả đã xây dựng đã khái quát một cách cơ bản về tài sản đầu tư chung của vợ chồng. Đề từ đó nghiên cứu các nội dung tiếp theo trong luận văn. Chia tài sản đầu tư chung Như đã đề cập thì tài sản đầu tư cũng là một trong những vấn đề quan trọng được đề cập đến khi chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Do đó, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định chế độ tài sản của vợ chồng có thể là chế độ tài sản pháp định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.
Chế độ tài sản pháp định được quy định tại khoản 1 điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014. Tài sản đầu tư chung của vợ chồng thuộc khối tài sản chung hợp nhất, phần quyền sở hữu của vợ chồng không được xác định trước. Đối với khối tài sản chung và tài sản đầu tư trong thời kỳ hôn nhân thì vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc quản lý, sử dụng. Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về chia tài sản đầu tư của vợ chồng khi ly hôn mặc dù vấn đề này đã được ghi nhận theo Luật HN&GĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành, vì thế dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về chia tài sản đầu tư của vợ chồng khi ly hôn.
Ngày nay, do xã hội phát triển, tính gắn kết của gia đình có nhiều biến đổi. Việc chia tài sản chung của vợ chồng đang trở thành một nhu cầu tất yếu. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng, một mặt giải toả được những xung đột, mâu thuẫn trong gia đình, giúp cho các cá nhân tự phát huy được các khả năng của mình trong xã hội. Mặt khác giúp cho các Toà án giải quyết nhanh chóng các vụ việc.
Xuất phát từ thực tế trên, Luật HN&GĐ năm 2014 trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ trước đó, tiếp tục quy định về việc phân chia 12 tài sản chung của vợ chồng.