Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong đời sống xã hội, quan hệ hôn nhân được xác lập trên cơ sở tình cảm tự nguyện giữa người nam và người nữ thông qua sự kiện đăng ký kết hôn. Cùng với việc duy trì đời sống chung, vợ chồng có trách nhiệm tạo lập, bồi đắp khối tài sản chung nhằm bảo đảm các nhu cầu thiết yếu của gia đình, chăm lo con cái. Tuy nhiên, khi mâu thuẫn phát sinh gay gắt, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được, ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân. Quá trình giải quyết ly hôn thường đi kèm các tranh chấp phức tạp, trong đó tranh chấp về tài sản chung tạo lập trong thời kỳ hôn nhân là vấn đề nan giải và kéo dài nhất.

Nếu các bên không thể tự thỏa thuận và yêu cầu Tòa án giải quyết, cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào các nguyên tắc phân chia tài sản được xác lập trong hệ thống pháp luật, trọng tâm là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản hướng dẫn liên quan. Việc nghiên cứu đề tài "Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam, thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hà Nội" của tác giả Ngô Thị Diễm Kiều xuất phát từ nhu cầu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về chế định phân chia tài sản, đồng thời phân tích thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân hai cấp trên địa bàn Thành phố Hà Nội nhằm nhận diện các vướng mắc, bất cập và kiến nghị phương hướng khắc phục.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là nghiên cứu, làm rõ các vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn; khảo sát thực tiễn áp dụng các nguyên tắc này để phát hiện tồn tại, hạn chế từ phía đương sự và từ công tác thụ lý, xét xử của Tòa án; trên cơ sở đó đề xuất các phương hướng, giải pháp khắc phục nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể như sau:

  1. Phân tích và khái quát được các vấn đề về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.
  2. Khái quát được thực tiễn áp dụng các nguyên tắc và đưa ra được những hạn chế, bất cập khi áp dụng nguyên tắc này vào việc xét xử của Tòa án.
  3. Đề xuất được những phương hướng và giải pháp khắc phục đối với việc áp dụng các nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định và nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan về giải quyết tài sản khi ly hôn; các vụ án giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh tại Thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Thời gian: Khóa luận khảo sát dữ liệu các bản án, quyết định và số liệu thống kê trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2024.
    • Không gian: Địa bàn Thành phố Hà Nội, giới hạn tại các bản án, quyết định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.
    • Nội dung: Tập trung vào hệ thống nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn, phân tích thực trạng xét xử, các vướng mắc phát sinh và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận là tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các đường lối, chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người, quyền công dân và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

Về khung lý thuyết và cơ sở pháp lý, tác giả khai thác trực tiếp hệ thống văn bản pháp luật thực định gồm:

  • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (các điều khoản trọng tâm: Điều 3 khoản 14 về khái niệm ly hôn; Điều 32, 33, 43, 47 đến 50 về chế độ tài sản; Điều 59 đến 64 về giải quyết tài sản khi ly hôn).
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 105 về khái niệm tài sản; Điều 165 về xác lập quyền sở hữu; Điều 213 về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng; các quy định về bất động sản, động sản).
  • Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình (trọng tâm là Điều 7).
  • Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (Điều 8, 9, 10, 11, 16).
  • Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 (Điều 2).
  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
  • Án lệ số 03/2016/AL về xác định công sức đóng góp đối với đất do cha mẹ cho một bên trong thời kỳ hôn nhân.

Trên cơ sở phân tích văn bản luật, tác giả tự tổng hợp và đưa ra định nghĩa học thuật: "Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn là hệ thống các nguyên tắc quy định đòi hỏi việc phải tuân thủ theo đúng trình tự trong việc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Khi áp dụng các nguyên tắc cần phải thực hiện theo đúng các trình tự và cần tuân thủ theo các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các nguyên tắc này." Đồng thời, tác giả đưa ra khái niệm tài sản chung và tài sản riêng để làm rõ đối tượng điều chỉnh trong tố tụng.

Về tình hình nghiên cứu, tác giả tổng thuật ba nhóm tài liệu tiền bối:

  1. Sách chuyên khảo: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam (Trường ĐH Luật TP.HCM), sách của TS. Nguyễn Văn Cừ (2008), PGS.TS. Nguyễn Ngọc Điện (2004), Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị Hường (2002). Tác giả nhận định các sách này chỉ tiếp cận tổng quát, chưa đi sâu vào từng nguyên tắc định lượng cụ thể.
  2. Bài báo, tạp chí chuyên ngành: Các nghiên cứu của Nguyễn Tùng (2022), Hà Thị Khuyên (2022), Lê Hồng Hiển (2020), Nguyễn Xuân Bình và Lê Vân Anh (2019). Tác giả chỉ ra các bài viết này chủ yếu nêu quy định chung cả nước, chưa làm rõ hạn chế từ phía Tòa án.
  3. Luận văn, luận án: Công trình của Đinh Thị Minh Mẫn (2014), Nguyễn Ngọc Long (2017 tại TAND quận Ba Đình), Nguyễn Thị Lan (2017). Tác giả xác định khóa luận của mình kế thừa các luận điểm trên nhưng tập trung chuyên sâu vào phương diện nguyên tắc áp dụng trên địa bàn toàn Thành phố Hà Nội ở cả hai cấp xét xử.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được sử dụng gồm: phương pháp mô tả, phân tích quy phạm, tổng hợp tài liệu, thống kê số liệu, hệ thống hóa và bình luận án thực tế. Nguồn dữ liệu thứ cấp gồm hai nguồn chính:

  • Trang thông tin điện tử công bố bản án, quyết định của Tòa án nhân dân Tối cao (https://congbobanan.toaan.gov.vn).
  • Báo cáo kết quả công tác các năm từ 2018 đến 2023 của Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hà Nội.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Thành phố Hà Nội

Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận và phân tích có hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng khi chấm dứt hôn nhân.

Thứ nhất, tác giả phân tích nội dung 4 nguyên tắc giải quyết tài sản cơ bản quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP:

  1. Giải quyết theo chế độ tài sản của vợ chồng: Tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên; ưu tiên áp dụng thỏa thuận hợp pháp trước, nếu không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận bị vô hiệu/không đầy đủ thì mới giải quyết theo luật định.
  2. Chia tài sản bằng hiện vật: Nguyên tắc cơ bản là chia đôi khối tài sản chung và ưu tiên chia bằng hiện vật; nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị, bên nhận hiện vật có giá trị lớn hơn phải thanh toán phần chênh lệch cho bên kia sau khi Tòa án thẩm định, định giá theo giá thị trường.
  3. Không chia tài sản riêng: Tài sản riêng của bên nào tiếp tục thuộc quyền sở hữu của bên đó, trừ trường hợp đã tự nguyện sáp nhập vào tài sản chung hoặc có thỏa thuận khác. Trường hợp tài sản riêng bị trộn lẫn với tài sản chung thì chỉ chia phần tài sản riêng nếu các đương sự có yêu cầu tách bạch.
  4. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đối tượng khác: Căn cứ vào điều kiện chăm sóc con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc người phụ thuộc không có khả năng tạo thu nhập để ưu tiên giao tài sản là bất động sản (nhà ở) cho người trực tiếp nuôi dưỡng, kết hợp nghĩa vụ cấp dưỡng của bên còn lại.

Thứ hai, tác giả phân tích 4 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc phân chia tài sản theo luật định:

  • Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng (điều kiện kinh tế, khả năng lao động, tình trạng sức khỏe tạo lập thu nhập sau ly hôn; bên khó khăn hơn được xem xét chia tỷ lệ lớn hơn).
  • Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung (pháp luật ghi nhận người làm công việc nội trợ trong gia đình có công sức đóng góp tương đương lao động có thu nhập).
  • Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập.
  • Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng (ngoại tình, bạo lực gia đình, phá hoại tài sản). Tại tiểu mục này, tác giả đã chỉ ra điểm mâu thuẫn giữa văn bản luật và văn bản dưới luật: điểm g khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định hành vi cố ý hủy hoại hoặc phá hoại tài sản là hành vi bạo lực gia đình; trong khi điểm d khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016 lại tách hành vi phá hoại tài sản thành một yếu tố lỗi độc lập, không thuộc bạo lực gia đình.

Thứ ba, chương này làm rõ các khái niệm pháp lý liên quan: định nghĩa tài sản (Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015), tài sản chung (Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP), tài sản riêng (Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Điều 10, 11 Nghị định 126/2014/NĐ-CP), nghĩa vụ tài sản liên quan đến người thứ ba (Điều 32, 60 Luật Hôn nhân và gia đình 2014), và hai hình thức phân chia tài sản (theo thỏa thuận theo Điều 47-50 và theo luật định theo Điều 33-46, Điều 59-64).

Chương 2: Thực tiễn áp dụng các nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Thành phố Hà Nội

Chương 2 phản ánh toàn diện bức tranh thực tiễn xét xử tại Hà Nội thông qua các bảng biểu thống kê và phân tích các bản án thực tế giai đoạn 2018 - 2024.

Về số lượng thụ lý và giải quyết chung, báo cáo công tác của Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hà Nội cho thấy khối lượng công việc rất lớn và duy trì tỷ lệ giải quyết cao:

Năm Số vụ việc đã thụ lý Số vụ việc đã giải quyết, xét xử Tỷ lệ giải quyết
2018 5.951 5.563 93,48%
2019 9.483 8.656 91,30%
2020 8.925 8.324 93,30%
2021 8.802 8.219 93,37%
2022 14.178 13.176 92,93%
2023 13.410 12.618 94,09%

Về thống kê các bản án, quyết định giải quyết việc hôn nhân và gia đình của từng đơn vị giai đoạn 01/01/2018 – 01/01/2024: Toàn thành phố ghi nhận mức trung bình 1.959 vụ việc/đơn vị. Các quận, huyện có số lượng giải quyết cao gồm TAND quận Đống Đa (4.628 vụ), TAND quận Long Biên (4.311 vụ), TAND quận Ba Đình (3.547 vụ), TAND quận Hà Đông (2.908 vụ), TAND huyện Sóc Sơn (2.811 vụ), TAND huyện Ba Vì (2.696 vụ). Riêng tại TAND Thành phố Hà Nội, các bản án và quyết định về chia tài sản khi ly hôn được thụ lý, giải quyết gồm 728 bản án, quyết định sơ thẩm (chiếm 54,9%) và 599 bản án, quyết định phúc thẩm (chiếm 45,1%).

Tuy nhiên, khi lọc riêng các bản án tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn được công khai trên Trang thông tin điện tử công bố bản án của Tòa án nhân dân Tối cao trong cùng kỳ, số lượng bản án hiển thị rất thấp, trung bình chỉ 2,1 vụ/quận, huyện trong vòng 6 năm:

Tòa án nhân dân cấp huyện / tỉnh Thời gian thống kê Số lượng bản án tranh chấp tài sản công bố
TAND huyện Đông Anh 01/01/2018 – 01/01/2024 3
TAND các quận: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Long Biên 01/01/2018 – 01/01/2024 2 vụ / mỗi đơn vị
TAND các quận, huyện: Cầu Giấy, Đống Đa, Hà Đông, Tây Hồ, Chương Mỹ, Đan Phượng, Phú Xuyên, Sóc Sơn 01/01/2018 – 01/01/2024 1 vụ / mỗi đơn vị
TAND các quận, huyện, thị xã: Bắc Từ Liêm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Nam Từ Liêm, Thanh Xuân, Sơn Tây, Ba Vì, Gia Lâm, Hoài Đức, Mê Linh, Mỹ Đức, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thanh Trì, Thường Tín, Ứng Hòa 01/01/2018 – 01/01/2024 0
TAND Thành phố Hà Nội 01/01/2018 – 01/01/2024 47

Tác giả lý giải thực trạng này là do đa số các vụ việc ly hôn đương sự chỉ yêu cầu giải quyết quan hệ nhân thân và nuôi con; vấn đề tài sản các bên tự thỏa thuận ngoài tòa án hoặc tách thành vụ án dân sự độc lập sau khi đã ly hôn.

Về thực tiễn xét xử cụ thể, tác giả phân tích các bản án điển hình:

  • Bản án sơ thẩm số 172/2023/HNGĐ-ST (TAND quận Ba Đình): Tòa án chia tài sản là nhà ở cho người vợ nuôi con chưa thành niên dựa trên nguyên tắc chia đôi kết hợp bảo vệ quyền lợi con nhỏ.
  • Bản án sơ thẩm số 613/2021/HNGĐ-ST (TAND quận Hà Đông): Người chồng có hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại sức khỏe, tinh thần vợ con; Tòa án căn cứ yếu tố lỗi chia người vợ hưởng 70%, người chồng hưởng 30% giá trị tài sản chung.
  • Bản án sơ thẩm số 57/2023/HNGĐ-ST (TAND quận Long Biên): Căn cứ công sức đóng góp và bảo vệ sản xuất kinh doanh, Tòa án chia quyền sử dụng đất 50/50, nhưng tài sản trên đất chia vợ hưởng 60%, chồng 40%; tài sản riêng của chồng không chia.
  • Bản án sơ thẩm số 13/2018/HNGĐ-ST (TAND huyện Đan Phượng) và Bản án số 39/2019/HNGĐ-ST (TAND huyện Đông Anh): Giải quyết đồng thời nghĩa vụ trả nợ chung đối với người thứ ba.
  • Bản án phúc thẩm số 102/2020/HNGĐ-PT (TAND Thành phố Hà Nội): Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất có nguồn gốc bố mẹ chồng tách thửa cho chồng. Tòa án áp dụng Án lệ số 03/2016/AL xác định người vợ có công sức đóng góp, tôn tạo nhà ở công khai nên công nhận là tài sản chung và phân chia theo tỷ lệ chồng 70%, vợ 30%.
  • Về công tác hòa giải: Từ ngày 01/11/2018, 16 Trung tâm hòa giải, đối thoại tại TAND hai cấp TP Hà Nội đã chính thức đi vào hoạt động, góp phần tăng tỷ lệ hòa giải thành.

Về tồn tại và hạn chế, tác giả chỉ rõ:

  • Từ phía Tòa án: Tình trạng vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo Bộ luật Tố tụng dân sự; bản án tuyên không rõ ràng hoặc sai sót số liệu phải đính chính; tỷ lệ án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán; thiếu biên chế; khó khăn cơ sở vật chất ở cấp huyện; công tác phối hợp đo đạc, thẩm định giá đất đai trước năm 2000 có sai lệch diện tích.
  • Từ phía áp dụng pháp luật và đương sự: Khó khăn xác minh tài sản riêng khi thiếu hóa đơn chứng từ; mâu thuẫn áp dụng Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (quy định thỏa thuận chế độ tài sản phải lập trước khi kết hôn, dẫn đến vướng mắc đối với các cặp kết hôn trước năm 2015); bất cập khi chia nhà ở bằng giá trị khiến người nhận tiền gặp khó khăn về chỗ ở sau thời hạn 6 tháng lưu cư; đương sự che giấu hành vi ngoại tình hoặc khó thu thập chứng cứ chứng minh bạo lực tinh thần.

Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Thành phố Hà Nội

Dựa trên mục lục công trình, tác giả phân chia hệ thống phương hướng và giải pháp thành 4 nhóm chính:

  1. Giải pháp về công tác thụ lý và giải quyết vụ án của Tòa án: Khắc phục tình trạng án quá hạn; nâng cao chất lượng lập hồ sơ, định giá tài sản; tăng cường biên chế và tập huấn nghiệp vụ cho Thẩm phán, Thư ký; đẩy mạnh cơ chế thanh tra, kiểm tra công vụ và phối hợp liên ngành với cơ quan tài nguyên - môi trường.
  2. Giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng nguyên tắc giải quyết tài sản:
    • Giải pháp về giải quyết mâu thuẫn của vợ, chồng trong tố tụng.
    • Hoàn thiện cơ chế áp dụng nguyên tắc giải quyết tài sản theo thỏa thuận, đặc biệt là xử lý chuyển tiếp đối với các quan hệ hôn nhân xác lập trước thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực.
    • Giải pháp về phân chia tài sản bằng hiện vật và giá trị nhằm bảo đảm quyền có chỗ ở của bên nhận giá trị.
  3. Phương hướng, giải pháp về xác định tài sản của vợ, chồng:
    • Quy chuẩn hóa tiêu chí phân định tài sản chung và tài sản riêng.
    • Xây dựng hướng dẫn thống nhất trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng là bất động sản.
    • Lượng hóa mức công sức đóng góp của mỗi bên (công sức lao động nội trợ, công sức tôn tạo đất đai).
    • Bảo đảm quyền, nghĩa vụ tố tụng và lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình.
  4. Đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức pháp luật cho nhân dân về chế độ tài sản vợ chồng và quy định pháp luật khi ly hôn.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể gắn liền với dữ liệu thực tế:

  • Tổng hợp và phản ánh số liệu thụ lý, giải quyết án hôn nhân và gia đình tại Hà Nội giai đoạn 2018 - 2023 đạt tỷ lệ giải quyết cao hàng năm (91,30% đến 94,09%).
  • Thống kê chi tiết tại TAND Thành phố Hà Nội với 728 bản án sơ thẩm và 599 bản án phúc thẩm về tranh chấp tài sản; đồng thời chỉ ra thực trạng chênh lệch lớn giữa số vụ giải quyết thực tế và số bản án công bố trên Cổng thông tin bản án (chỉ ghi nhận 47 vụ cấp tỉnh và rải rác 1-3 vụ tại một số quận/huyện).
  • Phân tích việc áp dụng thực tiễn của Án lệ số 03/2016/AL trong vụ án tranh chấp đất đai tại Bản án số 102/2020/HNGĐ-PT, minh chứng cho thứ tự ưu tiên áp dụng nguồn luật khi có khoảng trống pháp lý.
  • Phát hiện bất cập pháp lý cụ thể: sự không thống nhất giữa điểm g khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 và điểm d khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016 về định danh hành vi phá hoại tài sản; khoảng trống pháp lý của Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đối với thỏa thuận tài sản xác lập trước năm 2015.

Về đóng góp so với nghiên cứu trước, tác giả tự chỉ rõ: Trong khi các công trình trước đây chỉ tiếp cận chung chung mang tính tổng quát cả nước hoặc giới hạn trong phạm vi một địa bàn hẹp (như quận Ba Đình), khóa luận này đã đi sâu chuyên biệt vào việc áp dụng các nguyên tắc giải quyết tài sản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khảo sát trên phạm vi toàn địa bàn Thành phố Hà Nội ở cả Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh, phân tích song song hạn chế từ phía đương sự và hạn chế trong công tác thụ lý, xét xử của Tòa án.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình được tác giả thừa nhận là do hạn chế về kinh nghiệm thực tế và nguồn dữ liệu bản án công khai. Số lượng bản án tranh chấp tài sản được công bố trên Trang thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Tối cao tại nhiều quận/huyện hiển thị bằng 0, dẫn đến việc khảo sát thực tiễn qua cổng thông tin điện tử chưa bao quát hết toàn bộ các vụ việc đã thụ lý trên thực tế (nhất là các vụ án hòa giải thành hoặc đương sự không công khai).

Hướng nghiên cứu tiếp mở ra từ phạm vi đề tài là cần tiếp tục mở rộng tiếp cận các hồ sơ lưu trữ thực tế tại các TAND cấp huyện; nghiên cứu chuyên sâu cơ chế định giá tài sản biến động theo giá thị trường trong thời gian tố tụng kéo dài; và hoàn thiện các quy định đồng bộ giữa Luật Hôn nhân và gia đình với Luật Đất đai và Bộ luật Dân sự.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Luật, Luật Hành chính, Luật Dân sự và Tố tụng dân sự khi nghiên cứu về chế độ tài sản của vợ chồng và kỹ năng giải quyết án hôn nhân gia đình.
  • Người nghiên cứu đề tài tương tự có thể khai thác hệ thống dữ liệu thống kê bản án giai đoạn 2018 - 2024 tại các quận, huyện của Hà Nội được trích xuất từ báo cáo ngành Tòa án.
  • Các tiểu mục phân tích bản án thực tế (chia tài sản có lỗi bạo lực gia đình, chia tài sản bảo vệ người trực tiếp nuôi con, áp dụng án lệ số 03/2016/AL) là nguồn tư liệu thực tiễn hữu ích cho việc nghiên cứu kỹ năng xét xử và bảo vệ quyền lợi đương sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả khóa luận đưa ra khái niệm như thế nào về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn?
Tác giả định nghĩa: "Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn là hệ thống các nguyên tắc quy định đòi hỏi việc phải tuân thủ theo đúng trình tự trong việc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Khi áp dụng các nguyên tắc cần phải thực hiện theo đúng các trình tự và cần tuân thủ theo các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các nguyên tắc này."

2. Tỷ lệ giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình của TAND hai cấp TP Hà Nội giai đoạn 2018 - 2023 đạt kết quả ra sao?
Theo số liệu báo cáo được tổng hợp trong văn bản, tỷ lệ giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình hàng năm đều vượt chỉ tiêu đề ra và đạt trên 91%: năm 2018 đạt 93,48%; năm 2019 đạt 91,30%; năm 2020 đạt 93,30%; năm 2021 đạt 93,37%; năm 2022 đạt 92,93%; và năm 2023 đạt 94,09%.

3. Mâu thuẫn pháp lý nào được tác giả phát hiện giữa Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 và Thông tư liên tịch số 01/2016?
Điểm g khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 quy định hành vi cố ý hủy hoại hoặc phá hoại tài sản chung/riêng thuộc nhóm hành vi bạo lực gia đình. Tuy nhiên, điểm d khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016 lại tách hành vi phá hoại tài sản là hành vi độc lập, không thuộc hành vi bạo lực gia đình khi xem xét yếu tố lỗi của mỗi bên để phân chia tài sản.

4. Án lệ nào đã được TAND Thành phố Hà Nội vận dụng để chia tài sản là quyền sử dụng đất trong các bản án được khảo sát?
Đó là Án lệ số 03/2016/AL về hôn nhân và gia đình, được áp dụng trong Bản án phúc thẩm số 102/2020/HNGĐ-PT ngày 29-30/06/2020 của TAND Thành phố Hà Nội để công nhận phần quyền sử dụng đất do bố mẹ chồng tặng cho riêng chồng nhưng hai vợ chồng cùng tôn tạo, xây nhà công khai là tài sản chung, quyết định chia người chồng hưởng 70% và người vợ hưởng 30% giá trị tài sản.

5. Vướng mắc thực tế nào phát sinh đối với nguyên tắc giải quyết tài sản theo thỏa thuận theo Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014?
Điều 47 quy định thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng phải được lập trước khi kết hôn bằng văn bản công chứng/chứng thực và có hiệu lực từ ngày đăng ký kết hôn. Quy định này chỉ phù hợp với các trường hợp kết hôn sau thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực (từ 01/01/2015), nhưng không bao quát các cuộc hôn nhân xác lập trước năm 2015, dẫn đến việc Tòa án áp dụng thiếu thống nhất khi đương sự có thỏa thuận tài sản.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Thị Diễm Kiều đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và văn bản hướng dẫn thi hành. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực tế tại Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hà Nội giai đoạn 2018 - 2024, tác giả đã chỉ ra những kết quả đạt được cũng như các bất cập trong công tác xét xử và áp dụng pháp luật đối với việc chứng minh tài sản, xử lý yếu tố lỗi và chia hiện vật. Các phương hướng, giải pháp được đề xuất trong công trình bám sát thực tiễn xét xử tại địa phương, đóng góp góc nhìn cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi quan hệ hôn nhân chấm dứt.