phần mở đầu, kết luận, danh mục tai liệu tham khảo, luận án này gồm có 3 chương. trong đó chia thành tiết với tổng số {75 trang nội dung: Chương t: Cơ sở lý luận của việc giải quyết tranh chấp quốc tế bằng thương pháp hoà bình Chương 2: Thực tiễn giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương »háp hoà bình Chương 3: Tăng cường bảo đảm quốc tế đối với việc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hoà bình 12 CHUONG | CƠ SỞ LY LUẬN CUA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHAP QUỐC TẾ BẰNG PHƯƠNG PHÁP HOÀ BÌNH 1. TRANH CHAP QUỐC TẾ VÀ VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP QUỐC TẾ. Khái quát chung về tranh chấp quốc tế L.1 Khái niệm chung về tranh chấp Theo thuật ngữ của cuốn từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thuộc Viện khoa học xã hội Việt Nam xuất bản năm 1992, giải thích rõ ở điểm 2 của nghĩa từ tranh chấp là: đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng.
thường là trong vấn dé quyền lợi giữa các bên. Trong vụ án Mavrommatis case, toà án công lý quốc tế giải thích rằng tranh chấp là việc bat dông về quan điểm pháp luật hay về mai thực tê, là tranh chấp về quan điểm pháp lý hoặc mâu thuẫn về lợt ích giữa hai người trở di. Phan quyết của toà án công lý quốc tế năm 1924 vé vụ kiện Mavrommatis trên đã giải thích về khái niệm của tranh chấp (dispute) là “Sự bất đồng về mặt pháp lý hay về mặt thực tế, còn sọi là sự vung đột về quan điểm pháp lý hay là sự mdu thuần về lợi ích giữa 2 người trở đỉ".|61, 776] Theo giáo trình luật quốc tế Ấn Độ do Tiến sỹ S.Kapoor chủ biên tái xuất bản năm 1994 đã giải thích khái niệm về tranh chấp như khái niệm của tranh chấp của vụ án Mavrommatis trên. Còn khái niệm về tình thế (Situation) cùng là bộ phân quan trọng của Hiến chương Liên hiệp quéc và tại các văn kiện pháp lý quốc tế khác.
Tại Điều 34 Hiến chương Liên hiệp quốc đã giải thích khái niệm về tinh thế này tượng đương như khái niệm của tranh chấp. [3 Về khái niệm tranh chấp quốc tế, theo giáo trình luật quốc tế của Ấn Độ, tác giả Kapooa đã nêu rõ: - Thứ nhất là sự tranh chấp giữa các quốc gia. Trường hợp có hành vị sai trất với một dân tộc hay với một quốc gia nào đó nhưng nếu chính phủ của quốc gia đó không có hành động phan ứng lại thì cũng khong được coi đó là tranh chấp quốc tế. - Thứ hai sự tranh chấp phải xảy ra những hành vi cụ thể từ phía quốc gia gây sự.
- Thứ ba sự tranh chấp phải liên quan đến các đối tượng tranh chấp cụ thể của quốc gia bị hại [83, 724].trình về công pháp quốc tế của Mỹ xuất ban năm 1990 nêu rõ: Việc giải quyết các tranh chấp quốc tế là việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia [93]. Tranh chấp quốc tế có nhiều loại nhưng trong công trình nghiên cứu này tác giả chỉ xin dé cập những tranh chấp quốc tế có tính chất nguy cơ đến hoà bình và an ninh khu vực và thế giới mà đối tượng tranh chấp đó là: van đề tranh chấp về biên giới, chủ quyển lãnh thd, việc đối đầu quân sự, việc chạy dua vũ khí hạt nhân, vấn dé can thiệp quan sự hay xung đột sắc tộc. Các tranh chấp trên là mốt de doa đến sự sống còn của nhân loại và bị luật quốc tế cấm. Các tranh chấp có nguy cơ tổn hại đến nền hoà bình và ổn định từ những đối tượng tranh chấp nói trên luôn luôn là vấn để nhạy cảm giữa các quốc gia mà các nhà lãnh đạo quốc gia.
Liên hợp quốc. nhà làm luật quốc tế. cần tập hợp sức để tìm biện pháp ngăn cản trước khi nó xảy ra cũng như tìm mọi giải pháp để chấm đứt các tranh chấp bằng các nguyên tắc của Liên hợp quốc.2 Các bên tranh chấp Điều | và 2 của Hiến chương Liên hợp quốc nhấn mạnh rằng các phương pháp hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế đều liên quan đến các tranh chap quốc tế. Các bên liên quan đến tranh chấp quốc tế đều là chủ thể của luật quốc tế (Quốc gia).
Điều 2 khoản 3 của Hiến chương Liên hợp quốc quy định rằng tất cả thành viên của Liên hợp quốc phải giải quyết các tranh chấp bằng phương pháp hoà bình tức là các quốc gia thành viên Liên hợp quốc là các bên tranh chấp quốc tế. Các phương pháp giải quyết trên không thểáp dụng được với tính chất của cuộc tranh chấp nội bộ của một nước nào đó như đã nêu tại Điều 2 khoản 6 của Hiến chương Liên hợp quốc. Theo Điều 2 khoản 6 của Hiến chương Liên hợp quốc đã cho phép các quốc gia không phải là thành viên Liên hợp quốc cũng có hành động theo biện pháp này, có nghĩa là các quốc gia không phải là thành viên của Liên hợp quốc cũng được phép trở thành là các bên tranh chấp trong luật quốc Lế. Theo Điều 34, Khoản 1 của Quy chế toà án công lý quốc tế quy dinh rằng: chỉ có các nước mới có thể là các bên trong một vụ việc đang được toà ấn phân giải.
Đối với các loại tranh chấp như đã nêu trên, các hên tranh chấp mà tác giả đưa lên trong để tài này đều là các quốc gia là chủ thể của luật quốc a tế. Các phương thức chủ yêu giải quyết các tranh chấp quốc tế trong lịch sử quan hệ quốc tê 1. Các phương pháp bạo lực (chiến tranh). Khái niệm về việc sử dụng bạo lực trong quan hệ gia các nước (the use of forces between states) Trước Hiệp ước Hoà bình Briand-Kellogg 1928, trong quan hệ quốc tế việc đùng vũ lực hay chiến tranh được coi là biện pháp hợp pháp để giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia.
Cuộc xâm lược một quốc gia dộc lập chủ quyền hay xâm chiếm một bộ phận lãnh thổ của nước khác được luật quốc tế cổ điển coi là "can thiệp - Intervention”. Trong các loại mô h can thiệp(dó việc sử dụng lực lượng vũ trang đánh xâm chiếm lãnh thổ \ quốc gia khác có lúc đánh chiếm và xoá bỏ cơ cấu tồn tại của quốc gia thua trận. Luật quốc tế cổ điển điều chỉnh việc sử đụng phương pháp bạo lực y dùng vũ lực và việc dùng chiến tranh để giải quyết các tranh chấp quốc nhưng chế định trên đã chuyển đổi đáng kể và bị cấm do Hiệp ước tand-Kellogg 1928 và Hién chương Liên hợp quốc. Trước khi có Định ước quốc tế về từ bỏ chiến tranh, chế định về chiến anh đã bổ sung cho luật quốc tế và chức năng trái ngược nhau.
Khi nào có I vắng mặt của cơ chế quốc tế để thi hành pháp luật thì chiến tranh trở tành phương tiện tự lực của các quốc gia nhằm tạo hiệu lực cho những yêu ich mà họ cứ tính là phù hợp với luật quốc tế hay còn gọt đó là việc bảo ệ lợi ích hợp pháp của quốc gia [67, 873]. Trong luật quốc tế đã xuất hiện khái niệm về chiến tranh, đó là chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh hi nghĩa. 3 Như Gido su Henton viết “. không còn nghĩ ngờ gì nữa, đã co phê tình đối với sự khác thường của luật quốc tế.
Trước đây, vì việc thành lập cdc nguyên tắc về qui tắc xử sự quốc tế trong thời bình nhưng lại không sấm các quốc gia đùng chiến tranh xâm lược “aggression” chống lại trật tự quốc tế. Đó là việc rất phức tạp trong việc giải thích ban đầu về sự phan biệt thế nào là chiến tranh chính nghĩa (just wars - mà được luật pháp quốc tế cho phép - ung hộ) và chiến tranh phi nghĩa (unjust wars - tự coi là ngoài vòng pháp luật). Khi chiến tranh xảy ra giữa hai quốc gia các bên thứ ba luôn muốn tránh tham ra chiến tranh với các bên và muốn có quan hệ với cả các bên tham chiến mà không nhất thiết cần quyết định chiến tranh nào là chính nghĩa và có thể, chẳng có ai nói đến sự khác thường đó đã vô hiệu hoá luật pháp quốc tế. các quốc gia cùng tuân theo luật quốc tế về hoà bình nhưng nếu ho biết là lợi ích quốc gra cua.
No Sẽ -gap Tiguv cơ as ly bee Soiaghe ov geet 16 nghiêm trọng thì họ sẽ có hành động sử dụng bạo lực (dùng chiến tranh) để bào chữa lợi ích của họ và thành lập những nguyên tắc mới cho những quan hệ mới trong mot trật tự quốc tế, sẽ sửa đổi lại những nghĩa vụ quốc tế khác nhau"[67, 873-874]. Điều 2, khoản 3 Hiến chương Liên hợp quốc, "Tat cả các nước thành viên Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng biện pháp hoà bình, sao cho không tổn hại đến hoà bình, an ninh quốc tế và công lý. l Điều 2, khoản 4 của Hiến chương Liên hợp quốc ghi rõ "tất cả các thành viên Liên hợp quốc từ bỏ de doa bằng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ,quốc tế nhằm chống lại sự bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất cứ quốc gia nào cũng như bằng cách khác trai với những mục đích của liên hợp quốc”. Tuy nhiên, Hiến chương Liên hợp quốc không cố gắng đặt thuật ngữ “chiến tranh” hay "xâm lược” ra ngoài vòng pháp luật, Hiến chương chỉ cấm việc de doa hay sử dụng vũ lực.
Chương VỊT của Hiến chương liên hợp quốc cho phép Hội đồng Bảo an có quyển qui định những tồn tại cua mốt đe doa nào đến hoà bình, vi phạm hoà bình hay hành vi xâm lược và có kiến nghị hay quyết định chon những kế hoạch nhằm duy trì trong khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế. Điều 5I Hiến chương “không có một điều khoản nào trong Hiến chương này làm tổn hại đến quyền tự vệ cá nhân hay tập thể chính đáng trong trường hợp thành viên Liên hợp quốc bị tấn công vũ trang. 885], xét về mặt pháp lý điều 51 của Hiến chương Liên hợp quốc cũng có nhiều cái giải thích trái ngược nhau với điều 2, khoản 4 Hiến chương. Điều 2 (4) cấm các quốc gia de doa bằng vũ lực hay sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nhưng diéu 51 của Hiến chương Liên hợp quốc lai cho phép các nước thành viên Liên hợp quốc được quyền tự vé cá nhân hay tự vệ tập thé chính đáng nếu bị tấn công vũ trang.