CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG CÁ NHÂN 1.1 Khái quát chung về tranh chấp lao động cá nhân 1.1 Khái niệm tranh chấp lao động cá nhân Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tác động vào tự nhiên, biến đổi vật chất tự nhiên thành các vật phẩm để thỏa mãn nhu cầu sinh tồn của con người. Đây là hoạt động đặc trưng và là yếu tố quan trọng giúp con người trở nên hoàn thiện. Nhờ có lao động mà con người mới có thể tham gia vào quá trình sản xuất, thúc đẩy xã hội phát triển, giàu có và thịnh vượng. Trong quá trình đó con người không chỉ tác động qua lại đến thiên nhiên để tạo ra của cải vật chất mà họ còn có sự tác động qua lại lẫn nhau, qua đó hình thành nên các mối quan hệ, mà trong đó là quan hệ lao động.
Khoản 5 Điều 3 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội (BLLĐ 2019) quy định: “Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Bước sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, thị trường Việt Nam ngày càng đa dạng, nhu cầu của con người ngày càng cao, quan hệ lao động cũng vì thế mà ngày càng nhiều và phức tạp. Khi đó, mục đích của mỗi bên trong việc mua bán sức lao động là hướng đến lợi ích tối đa cho bản thân mình, điều này trở thành động lực trực tiếp của các bên trong quan hệ lao động, tạo ra những mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên, khiến cho tranh chấp lao động (TCLĐ) trở thành vấn đề hiển nhiên và khó tránh khỏi. Có thể nói, TCLĐ là một hiện tượng xã hội khách quan, là sản phẩm tất yếu, phát sinh và gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của quan hệ lao động.
Trong quan hệ lao động, mối quan hệ giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng 6 lao động (NSDLĐ) không phải lúc nào cũng hài hòa mà thường chỉ có tính ổn định, bền vững tương đối. Các bên trong quan hệ lao động đều mong muốn giành được lợi ích tối đa về phía mình. Để làm được điều đó, ngay từ đầu khi xác lập quan hệ lao động, NLĐ và NSDLĐ đều cố gắng chi tiết hóa những cam kết, thỏa thuận để mang lại nhiều lợi ích nhất có thể cho mình. Tiếp đó, xuyên suốt quá trình thực hiện quan hệ lao động, các bên vẫn mong muốn và tìm cách làm thế nào để có thể thu được mục đích tối đa.
NLĐ thì chú trọng đến vấn đề tiền lương, thưởng, phúc lợi…; NSDLĐ thì quan tâm đến lợi nhuận tối đa trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây chính là những lợi ích mang tính mâu thuẫn, đối nghịch nhau, và là hiện tượng phổ biến tồn tại trong quan hệ lao động1. Do những mâu thuẫn đó nên việc xảy ra bất đồng, xung đột giữa NSDLĐ và NLĐ là tất yếu. Tuy nhiên, có những mâu thuẫn, bất đồng có thể tự biến mất hoặc các bên có thể hóa giải được thông qua thương lượng, thỏa thuận; ngược lại, cũng có những bất đồng khi không dung hòa được thì sẽ trở nên gay gắt và chuyển hóa thành TCLĐ, đòi hỏi có sự tham gia của một bên trung gian để góp phần giải quyết tranh chấp.
Điều này là bởi vì, mâu thuẫn là phản ứng có ý thức nhưng nó mới chỉ dừng lại ở một phản ứng tức thời. Một mặt, dù rằng các bên không chủ động giải quyết nhưng sau một thời gian, mâu thuẫn dần lắng xuống và tự mất đi. Mặt khác, khi mâu thuẫn và xung đột chạm đến một ngưỡng nhất định và có sự can thiệp bởi yếu tố ý chí của các chủ thể, được biểu hiện bằng một hình thức cụ thể sẽ làm xuất hiện tranh chấp. Lúc này, các bên sẽ thể hiện sự bất đồng của mình thông qua các hành vi xử sự cụ thể, đó có thể là sự phản đối bằng lời nói hoặc bằng văn bản, đó có thể là những đòi hỏi, khiếu nại đối với bên kia, hoặc cũng có thể là yêu cầu chủ thể thứ ba hỗ trợ, can thiệp vào vụ tranh chấp.
Hiện nay, pháp luật lao động ở hầu hết các nước đều ghi nhận thuật ngữ “tranh chấp lao động”, tuy nhiên, một quốc gia khác nhau, tùy vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của mình mà có cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về TCLĐ cũng như cơ chế giải quyết TCLĐ. 1 Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình luật lao động, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.
7 Đạo luật về Quan hệ công nghiệp năm 1967 của Malaysia định nghĩa TCLĐ là “bất kỳ một sự tranh chấp nào giữa người sử dụng lao động với công nhân của người đó mà có liên quan đến việc sử dụng lao động hay những điều kiện làm việc của bất kỳ công nhân nào kể trên”2. Ở đất nước này, TCLĐ được chia thành tranh chấp về quyền và tranh chấp về lợi ích. Tranh chấp về quyền là những tranh chấp nảy sinh từ việc vi phạm thỏa ước lao động tập thể hay luật lệ bảo hộ lao động. Đó cũng có thể là những tranh chấp liên quan đến việc công nhận công đoàn hay quyền của công đoàn được đại diện cho một lớp, một loại công nhân riêng biệt nào đó.
Tranh chấp về lợi ích được hiểu là những tranh chấp bắt nguồn từ các bất đồng, bế tắc khi thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể và các khiếu nại thường ngày của NLĐ3. Trong khi đó, tại Thái Lan, theo Đạo luật về Quan hệ lao động năm 1975, “tranh chấp lao động là tranh chấp giữa người sử dụng lao động và người lao động về điều kiện sử dụng lao động”. Có thể thấy rằng, đây là một khái niệm còn khá sơ sài, chung chung và chưa đầy đủ. Theo đó, chỉ điều kiện sử dụng lao động trong quan hệ lao động mới là đối tượng của TCLĐ.
Các tranh chấp khác xảy ra giữa NLĐ và NSDLĐ trong quan hệ lao động, chẳng hạn như tranh chấp liên quan đến hợp đồng lao động, kỷ luật lao động… lại không được đề cập đến4. Ở Việt Nam, Sắc lệnh số 29/SL ngày 12 tháng 3 năm 1947 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa chưa cung cấp một định nghĩa cụ thể nhưng đã ghi nhận TCLĐ dưới các thuật ngữ “việc kiện tụng”, “việc kiện”, “xích mích” nằm rải rác tại một số điều luật. Từ năm 1986, cùng với quá trình đổi mới và sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, nhận thức về quan hệ lao động và TCLĐ cũng thay đổi. Thuật ngữ “tranh chấp lao động” bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật.
Điều 27 Pháp lệnh số 45-LCT/HDDNN8 ngày 30 tháng 8 năm 1990 của 2 Đặng Đức San (1996), Tìm hiểu pháp luật về việc giải quyết tranh chấp lao động, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 3 Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình luật lao động, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.
4 Đặng Đức San (1996), Tìm hiểu pháp luật về việc giải quyết tranh chấp lao động, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 8 Hội đồng nhà nước về hợp đồng lao động định nghĩa: “Bất đồng nảy sinh giữa hai bên về việc thực hiện hợp đồng lao động được coi là tranh chấp lao động và được giải quyết theo trình tự giải quyết tranh chấp lao động”. Tuy còn đơn sơ nhưng đây là định nghĩa đầu tiên về TCLĐ được ghi nhận trong một văn bản pháp luật lao động ở Việt Nam. Ngày 23 tháng 6 năm 1994, Bộ luật Lao động số 35-L/CTN của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (BLLĐ 1994) ra đời, thay thế cho Pháp lệnh về Hợp đồng lao động.
Điều 157 BLLĐ 1994 đã đưa ra một định nghĩa chính thức về tranh chấp lao động: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương và các điều kiện lao động khác, về việc thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể và trong quá trình học nghề”. Thêm vào đó, khoản 2 điều này cũng quy định tranh chấp lao động bao gồm: tranh chấp lao động cá nhân giữa NLĐ với NSDLĐ và tranh chấp tập thể giữa tập thể lao động với NSDLĐ. Cho đến năm 2006, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động đã đưa ra định nghĩa TCLĐ như sau: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động”.
So với định nghĩa trước đó, định nghĩa này đã khái quát các dấu hiệu về nội dung, phạm vi đối tượng tranh chấp và chủ thể của quan hệ tranh chấp. Theo đó, các tranh chấp về quyền và lợi ích nằm trong phạm vi quan hệ lao động giữa NLĐ, tập thể lao động với NSDLĐ thì mới được coi là một TCLĐ. Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2012 của Quốc hội (BLLĐ 2012) cũng phân loại tranh chấp lao động thành TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể. Hai loại tranh chấp này khác nhau về chủ thể, quy mô, mức độ ảnh hưởng và có cơ chế giải quyết riêng.
Khoản 7 Điều 3 BLLĐ 2012 quy định: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong 9 quan hệ lao động. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động”. TCLĐ đã được định nghĩa một cách tương đối khái quát và đầy đủ tại BLLĐ 2012, phản án được nội dung tranh chấp, đối tượng tranh chấp và cả phạm vi tranh chấp. Tuy nhiên, các khái niệm về TCLĐ cá nhân và TCLĐ tập thể lại còn tương đối giản đơn, chủ yếu tập trung vào chủ thể của tranh chấp.